Xử phạt hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao năm 2023

vi phạm hành chính, xử phạt vi phạm hành chính

Xử phạt hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao

Bình đẳng giới luôn là một vấn đề. Con đường dẫn đến bình đẳng giới liên quan đến việc giải phóng cả nam giới và phụ nữ khỏi bị phân biệt đối xử hoặc gánh nặng trong bất kỳ lĩnh vực nào. Để đảm bảo bình đẳng giới trên thực tế, ngày 29 tháng 6 năm 2006, Quốc hội Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật Bình đẳng giới năm 2006. 55/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 6 năm 2009.

Trong bài viết này, hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao.

Xử phạt hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao

Mức xử phạt

Theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/06/2009 thì hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao có thể bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 200.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Điều 11. Các hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây

a) Xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhằm cản trở nam hoặc nữ sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật, biểu diễn hoặc các hoạt động văn hóa khác, tham gia hoạt động thể dục, thể thao vì định kiến giới;

b) Tự mình thực hiện hoặc xúi giục người khác thực hiện hủ tục, phong tục tập quán lạc hậu mang tính phân biệt đối xử về giới dưới mọi hình thức.

Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở nam hoặc nữ sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật, biểu diễn hoặc các hoạt động văn hóa khác, tham gia hoạt động thể dục, thể thao vì định kiến giới.

Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Dùng vũ lực cản trở nam hoặc nữ sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật, biểu diễn hoặc các hoạt động văn hóa khác, tham gia hoạt động thể dục, thể thao vì định kiến giới;

b) Không cho nam hoặc nữ sáng tác, phê bình văn hóa, nghệ thuật, biểu diễn hoặc các hoạt động văn hóa khác, tham gia hoạt động thể dục, thể thao vì định kiến giới.

Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Sáng tác, lưu hành, xuất bản hoặc cho phép xuất bản các tác phẩm có nội dung cổ vũ, tuyên truyền bất bình đẳng giới, định kiến giới dưới bất kỳ thể loại, hình thức nào;

b) Truyền bá tư tưởng, hủ tục, phong tục tập quán lạc hậu mang tính phân biệt đối xử về giới dưới mọi hình thức;

c) Thực hiện quảng cáo về các dịch vụ xã hội, thông báo, nhắn tin, rao vặt có nội dung cổ vũ, tuyên truyền bất bình đẳng giới, định kiến giới.

Hình thức xử phạt bổ sung:

Tước quyền sử dụng giấy phép từ ba tháng đến sáu tháng đối với hành vi sáng tác, lưu hành, xuất bản các tác phẩm quy định tại điểm a khoản 4 Điều này.

Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc xin lỗi đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều này;

b) Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp của nam hoặc nữ đã bị xâm hại đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;

c) Buộc sửa đổi, thay thế, đính chính hoặc tiêu hủy các tác phẩm, vật phẩm có nội dung cổ vũ, tuyên truyền bất bình đẳng giới, định kiến giới đối với hành vi quy định tại khoản 4 Điều này;

d) Buộc chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý đối với hành vi quy định tại khoản 2, điểm a khoản 3 Điều này.”

Xử phạt hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao

Khái niệm

Bình đẳng giới

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006, Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.

Định kiến giới

Căn cứ vào Khoản 4 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006, định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ.

Giới tính

Khác với giới – chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội, thì giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ.

Xúc phạm danh dự, nhân phẩm

Danh dự, nhân phẩm là những giá trị gắn liền với nhân thân của con người, được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Theo đó, có thể hiểu xúc phạm danh dự nhân phẩm là dùng những lời lẽ thô bỉ, tục tĩu để nhục mạ nhằm hạ uy tín gây thiệt hại về danh dự, nhân phẩm cho người khác.

Sáng tác, phê bình văn học

Sáng tác văn học là quá trình sáng tạo tác phẩm văn học nghệ thuật bằng ngôn từ, thể hiện tâm tư, trạng thái, xúc cảm, cảnh đời, kiếp người…diễn ra ngay bên trong thế giới nghệ thuật mà nhà văn tưởng tượng nên. Sáng tác văn học là một ngành tương đối mới, tạo ra cơ hội phát triển cho những cá nhân trẻ được thử sức mình với hoạt động văn chương.

Theo 150 Thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân chủ biên, phê bình văn học là sự phán đoán, bình phẩm, đánh giá và giải thích tác phẩm văn học, đồng thời kèm theo việc phán đoán, bình luận, giải thích, đánh giá những hiện tượng đời sống mà tác phẩm nói tới.

Nghệ thuật

Nghệ thuật là sự sáng tạo trong mọi hoạt động để tạo ra các sản phẩm (sản phẩm có thể là vật thể hay phi vật thể) chứa đựng giá trị lớn về tư tưởng, tinh thần, có tính nhân văn và thẩm mỹ, mang tới giá trị văn hóa chạm sâu tới cảm xúc của con người, khán giả thưởng thức nghệ thuật. Nghệ thuật là những cái hay, cái đẹp để khán giả chiêm nghiệm và ngưỡng mộ bởi kỹ năng, trình độ, kỹ xảo cao vượt lên trên mức thông thường.

Có thể kể đến một số loại hình nghệ thuật tiêu biểu như: hội họa, âm nhạc, mỹ thuật, kiến trúc, sân khấu,…

Hoạt động thể dục, thể thao

Thể thao có thể hiểu là bất kỳ hoạt động rèn luyện thân thể hay tập luyện nào nhằm nâng cao sức khỏe, tăng sức mạnh cơ bắp và duy trì sự dẻo dai. Vì thế,

Thể hình là quá trình vận động cơ thể để duy trì sự cân bằng, giữ dáng và cải thiện sức mạnh. Bạn có chơi thể thao thường xuyên không?

Thể thao cũng giống như thể dục. Đây là một hoạt động thể chất hoặc trò chơi liên quan đến tập thể dục, nhưng thường mang tính cạnh tranh nhằm thúc đẩy người tham gia làm việc chăm chỉ hơn. Ví dụ: các môn thể thao như bóng đá, cầu lông và trượt băng.

Xử phạt hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao

Biện pháp khắc phục hậu quả

Hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ sẽ áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả tại Khoản 6 Điều 11 Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/06/2009.

Buộc xin lỗi đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 phần mức xử phạt nêu trên.

Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp của nam hoặc nữ đã bị xâm hại đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 3 phần mức xử phạt nêu trên.

Buộc sửa đổi, thay thế, đính chính hoặc tiêu hủy các tác phẩm, vật phẩm có nội dung cổ vũ, tuyên truyền bất bình đẳng giới, định kiến giới đối với hành vi quy định tại khoản 4 phần mức xử phạt nêu trên.

Buộc chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý đối với hành vi quy định tại khoản 2, điểm a khoản 3 phần mức xử phạt nêu trên.

Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính

Căn cứ vào Điều 4, 5 Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/06/2009, áp dụng nguyên tắc sau đây khi xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới.

Thứ nhất, về hình thức xử phạt

– Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây:

Phạt cảnh cáo.

Phạt tiền. Mức phạt tối thiểu là 200.000 đồng, mức phạt tối đa là 40.000.000 đồng.

– Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

Thứ hai, về trách nhiệm thi hành, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thi hành Nghị định này.

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành những gì được hướng dẫn.

Trình tự thủ tục xử phạt vi phạm hành chính

Do hành vi có mức tiền từ 200.000 đến 12.000.000 đồng nên có 02 hướng xử phạt như sau:

Thứ nhất, mức phạt dưới 500.000 đồng, áp dụng thủ tục xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản theo quy định tại Điều 56 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Thứ hai, mức phạt trên 500.000 đồng sẽ áp dụng thủ tục xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại Điều 57, 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 năm 2012, sửa đổi bởi Khoản 29 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi năm 2020. Theo đó thủ tục xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện theo trình tự:

Bước 1:  Khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản vi phạm hành chính.

Biên bản vi phạm hành chính phải được lập tại nơi xảy ra hành vi vi phạm hành chính. Trường hợp biên bản vi phạm hành chính được lập tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền lập biên bản hoặc địa điểm khác thì phải ghi rõ lý do vào biên bản.

Bước 2: Ký biên bản vi phạm hành chính

Biên bản vi phạm hành chính phải được lập thành ít nhất 02 bản, phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký.

Bước 3: Giao biên bản vi phạm hành chính

Biên bản vi phạm hành chính lập xong phải được giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính 01 bản. Trường hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản và các tài liệu khác phải được chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, trừ trường hợp biên bản vi phạm hành chính được lập trên tàu bay, tàu biển, tàu hỏa.

Trường hợp biên bản vi phạm hành chính có sai sót hoặc không thể hiện đầy đủ, chính xác các nội dung thì phải tiến hành xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính để làm căn cứ ra quyết định xử phạt. Việc xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính được lập thành biên bản xác minh. Biên bản xác minh là tài liệu gắn liền với biên bản vi phạm hành chính và được lưu trong hồ sơ xử phạt.

Biên bản vi phạm hành chính có thể được lập, gửi bằng phương thức điện tử đối với trường hợp cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt, cá nhân, tổ chức vi phạm đáp ứng điều kiện về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, thông tin.

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới

Theo Điều 14,15,16,17 Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009 Hành vi vi phạm quy định về bình đẳng giới có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định .

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội

Thanh tra viên Lao động – Thương binh và Xã hội đang thi hành công vụ có quyền:

Phạt cảnh cáo.

Phạt tiền đến 500.000 đồng.

Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 2.000.000 đồng.

Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.

Chánh Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội có quyền:

Phạt cảnh cáo.

Phạt tiền đến 30.000.000 đồng.

Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền.

Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.

Chánh Thanh tra Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có quyền:

Phạt cảnh cáo.

Phạt tiền đến mức tối đa quy định tại Nghị định này.

Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền.

Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Thanh tra chuyên ngành khác

Trong phạm vi quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật, Thanh tra viên đang thi hành công vụ, Chánh Thanh tra cấp Sở, Chánh thanh tra cấp Bộ của các ngành khác mà phát hiện hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới quy định tại Nghị định này thuộc lĩnh vực hoặc địa bàn quản lý của mình thì cũng có quyền xử phạt như Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội.

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền:

Phạt cảnh cáo.

Phạt tiền đến 2.000.000 đồng.

Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 2.000.000 đồng.

Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền:

Phạt cảnh cáo.

Phạt tiền đến 30.000.000 đồng.

Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền.

Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền:

Phạt cảnh cáo.

Phạt tiền đến mức tối đa quy định tại Nghị định số 55/2009/NĐ-CP.

Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền.

Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Công an nhân dân, Bộ đội biên phòng

Công an nhân dân, Bộ đội biên phòng có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới liên quan trực tiếp đến lĩnh vực mình quản lý.

Như vậy Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn Xử phạt hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao

Trong trường hợp quý khách có bất kỳ các vấn đề nào gặp khó khăn đừng ngần ngại liên hệ Luật Nam Sơn để được hỗ trợ trực tiếp bởi các Luật sư HàLuật sư Trung và các Luật sư có kinh nghiệm khác.

Nội dung trên chỉ mang tính chất tham khảo, quý khách hàng có nhu cầu tư vấn chi tiết vui lòng liên hệ:

Điện thoại: 1900.633.246

Gmail: Luatnamson79@gmail.com

 

 

 

 

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook