Phân tích các trường hợp vụ án dân sự không thể tiến hành hòa giải trong tố tụng dân sự BLTTDS 2015

nhung-vu-an-dan-su-khong-tien-hanh-hoa-giai-duoc

Phân tích các trường hợp vụ án dân sự không thể tiến hành hòa giải trong tố tụng dân sự

Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp rất phổ biến tại Việt Nam. Tuy nhiên có những trường hợp vụ án dân sự không thể hòa giải được. Bài viết dưới đây Luật Nam Sơn sẽ làm rõ vấn đề này.

nhung-vu-an-dan-su-khong-tien-hanh-hoa-giai-trong-to-tung-dan-su

Khái niệm hòa giải vụ án dân sự trong tố tụng dân sự  là gì?

Hòa giải vụ án dân sự  trong tố tụng dân sự là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành theo pháp luật tố tụng dân sự nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận, thương lượng với nhau về giải quyết vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân là các bên tranh chấp thông qua vai trò trung gian của Tòa án.

Nguyên tắc tiến hành hòa giải trong tố tụng dân sự 

Việc hòa giải vụ án dân sự  trong tố tụng dân sự được tiến hành theo các nguyên tắc quy định tại Khoản 2 Điều 205 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, theo đó:

Thứ nhất, hòa giải trong tố tụng dân sự phải tôn trọng sự tự nguyện của các bên, không bắt buộc, áp đặt các bên tranh chấp phải tiến hành hòa giải. Theo quy định tại Điều 205 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định. Như vậy, khi các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận tức là các đương sự tự lựa chọn quyết định các vấn đề tranh chấp bằng hòa giải và thương lượng, thỏa thuận với nhau giải quyết các vấn đề của vụ án.

Thứ hai, hòa giải trong tố tụng dân sự phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật, nội dung thỏa thuận không trái với pháp luật, đạo đức xã hội.

Khi tòa án tiến hành hòa giải để giải quyết vụ án dân sự ngoài yếu tố tự nguyện thỏa thuận của các đương sự thì việc tòa án hòa giải còn phải thỏa mãn các điều kiện: tuân thủ đúng trình tự, thủ tục hòa giải; phạm vi hòa giải theo pháp luật quy định; nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không được trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội

Thứ ba, hòa giải phải tích cực, kiên trì nhằm đạt được kết quả hòa giải. Tích cực để có thể giải quyết được nhanh chóng vụ án, không để việc hòa giải kéo dài vô ích khi không có khả năng hòa giải nhưng lại phải kiên trì giải thích cho đương sự hiểu rõ pháp luật áp dụng giải quyết vụ án và đi sâu giải quyết các mắc mớ trong tâm tư tình cảm của họ.

Các trường hợp vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được

Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt

“Theo nội dung điều luật, chủ thể được xác định là bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt thì thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được”. Do vậy, nếu bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án “triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt thì Tòa án lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được… và ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung”. Trường hợp này thường xảy ra khi bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không mong muốn tiến hành hòa giải và đã cố tình gây khó khăn, cản trở hoặc muốn kéo dài thời gian giải quyết nhằm tạo sự bất lợi cho phía nguyên đơn bằng cách không thông báo ý định đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và cố ý không có mặt tại phiên hòa giải. Mặc dù vậy, sự không có mặt của bị đơn hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên hòa giải mà đã được Tòa án thông báo triệu tập hợp lệ đến hai lần cũng là cơ sở của việc vụ án dân sự đó không tiến hành hòa giải được và Tòa án phải ra quyết định để đưa vụ án ra xét xử. Ngoài ra, cần lưu ý, trong trường hợp “tại phiên tòa bị đơn có yêu câu Tòa án hoãn phiên tòa để tiến hành hòa giải thì Tòa án không chấp nhận nhưng cần tạo điều kiện cho các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án”.

Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng

“Lý do chính đáng được xác định là các sự kiện xảy ra một cách khách quan, không lường trước được (xác định tương tự theo điểm c, khoản 3, Điều 14, Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP); các sự kiện này xảy ra không phụ thuộc và chịu sự chi phối của con người. VD: Bão lụt, thiên tai, sạt lở…”. Hoặc có thể quan niệm, lý do chính đáng là các sự kiện xảy ra rất bất ngờ, khách quan đến nỗi bản thân đương sự cũng không dự đoán trước được. Nói cách khác, đấy là những tình huống phát sinh ngẫu nhiên và không thuộc khả năng quyết định hoặc có thể giải quyết của đương sự. Do đó, không ít trường hợp mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia hòa giải và đương sự cũng có ý thức tham gia phiên hòa giải thế nhưng chỉ vì sự kiện xảy ra quá bất ngờ nên đã làm cho đương sự không thể tham gia phiên hòa giải được. Vì vậy, đây cũng là một lý do dẫn đến việc vụ án dân sự không thể tiến hành hòa giải được và Tòa án sẽ phải ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự

Trên thực tế, các vụ án hôn nhân và gia đình đều diễn ra khá phức tạp, bởi lẽ, Tòa án thường phải giải quyết khá nhiều quan hệ pháp luật như xem xét, giải quyết việc ly hôn, vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng và ai là người có trách nhiệm nuôi dưỡng con cái. Mặt khác, thông thường đối với vụ án ly hôn, ban đầu Tòa án cũng mong muốn có thể hàn gắn quan hệ giữa hai vợ chồng. Vì nếu như hai vợ chồng có thể trở lại với nhau thì đồng nghĩa các quan hệ pháp luật trên sẽ không cần phải giải quyết và vấn đề tình cảm của con cái hay các mối quan hệ giữa các bên sau này vẫn có thể được giữ gìn tốt hơn. Do vậy, đối với các vụ án ly hôn, việc tiến hành thủ tục hòa giải luôn được Tòa án đặc biệt coi trọng. Tuy nhiên, để có thể tự mình tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự trong vụ án ly hôn, đòi hỏi chủ thể tham gia là cá nhân phải có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Trong đó, nếu đương sự mất năng lực hành vi dân sự thì đương nhiên đương sự cũng sẽ không thực hiện được năng lực hành vi tố tụng dân sự. Hơn nữa, đối với các vụ án ly hôn thì người đại diện hợp pháp của các bên đương sự cũng không có quyền được thay mặt đương sự đứng ra hòa giải với bên kia. Bởi lẽ, việc quyết định chung sống giữa vợ chồng hoàn toàn phải xuất phát từ quyền bình đẳng tự nguyện và tự do quyết định của vợ, chồng. Sở dĩ như vậy là vì “quan hệ hôn nhân là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao hay ủy quyền cho cá nhân khác đại diện tham gia”. Do vậy, trong trường hợp vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự thì Tòa án cũng không thể tiến hành hòa giải được. Bởi “người mất năng lực hành vi dân sự không thể hiện được ý chí, suy nghĩ của bản thân nên việc tổ chức phiên hòa giải cũng không có giá trị và không đạt được mục đích của hòa giải”.

Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải

Về nguyên tắc, “Tòa án phải hòa giải vụ án dân sự trước khi đưa vụ án ra xét xử sở thẩm”. Mặc dù vậy, việc một trong các bên đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải cũng là cơ sở cho việc Tòa án không tiến hành thủ tục hòa giải. Sở dĩ BLTTDS 2015 cho phép đương sự có quyền đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án dân sự  “xuất phát từ đặc trưng của tố tụng dân sự là “quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự” (Điều 5 BLTTDS)”. Nói cách khác, quy định này được hình thành dựa trên quyền tự quyết định của các đương sự và đây cũng là quy định mới của BLTTDS 2015. Bởi lẽ, trước đây, BLTTDS 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011 đều không quy định vấn đề này. Thế nhưng đây lại là quy định cần thiết và quan trọng bởi đương sự là những người trực tiếp phải hòa giải với nhau và có lẽ mong muốn của họ là nhanh chóng giải quyết các quan hệ pháp luật tranh chấp. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, có thể do các đương sự không còn hy vọng vào việc có thể giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải thế nên việc tiến hành hòa giải với các đương sự trở nên không cần thiết và lại mất thêm thời gian chờ đợi. Do vậy, các đương sự có thể chỉ mong muốn Tòa án nhanh chóng tiến hành thủ tục xét xử. Chính vì thế, có thể khẳng định, việc ghi nhận quyền hạn này là cần thiết và càng góp phần đề cao quyền tự do định đoạt của các bên đương sự khi tham gia tố tụng dân sự.

Như vậy Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn hiểu quy định của pháp luật về Phân tích các trường hợp vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được . Trong trường hợp quý khách có bất kỳ các vấn đề nào gặp khó khăn đừng ngần ngại liên hệ Luật Nam Sơn để được hỗ trợ trực tiếp bởi  Luật sư Hà, Luật sư Trung và các luật sư chuyên môn khác.

Điện thoại: 1900.633.246

Gmail: Luatnamson79@gmail.com

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook