Vay tín chấp là gì? Khái niệm, đặc điểm và nội dung của vay tín chấp

Vay tín chấp là gì? Khái niệm, đặc điểm và nội dung của vay tín chấp

Vay tín chấp là một trong những sản phẩm cho vay của ngân hàng. Hình thức vay này được xây dựng trên uy tín của bạn để ngân hàng cho vay. Uy tín của bạn sẽ thể hiện qua xác minh thu nhập cũng như xác minh tín dụng của bạn. Bài viết dưới đây Luật Nam Sơn sẽ làm rõ vấn đề về khái niệm, đặc điểm và nội dung của tín chấp.

vay-tin-chap

Khái niệm về tín chấp

Điều 344 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Tổ chức chính trị-xã hội tại cơ sở có thể bảo đảm bằng tín chấp cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng khác để sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng theo quy định của pháp luật”.

Tín chấp là việc tổ chức chính trị xã hội tại cơ sở bằng uy tín của mình để bảo đảm cho thành viên của mình vay vốn tại các tổ chức tín dụng bằng việc xác nhận về điều kiện, hoàn cảnh của cá nhân, hộ gia đình nghèo khi vay vốn và phối hợp chặt chẽ với tổ chức tín dụng giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn; giám sát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả; đôn đốc trả nợ đầy đủ, đúng hạn cho tổ chức tín dụng.

Đặc điểm của vay tín chấp:

Thứ nhất về hình thức vay tín chấp thì không thể thực hiện được trong giai đoạn đầu của mối quan hệ giữa người cho vay và người vay. Để có được sự tín nhiệm, quan hệ vay – cho vay phải trải qua một thời gian nhất định.

Thứ hai, đối với hình thức này thì thế chủ động trong việc quyết định cho vay tín chấp thuộc về người cho vay. Bởi lẽ, khi và chỉ khi người cho vay có được độ tin cậy rất cao đối với người vay mới có thể quyết định cho vay tín chấp.

Thứ ba, đối với phía người vay (các doanh nghiệp) đóng một vai trò to lớn trong quá trình tạo ra sự tín nhiệm để có thể vay tín chấp. Trong nhiều trường hợp, chính hoạt động kinh doanh có hiệu quả và sự minh bạch của doanh nghiệp lại là nhân tố quyết định để ngân hàng và các tổ chức tín dụng quyết định cho vay tín chấp.

Thứ tư, một đặc điểm đặc trưng của vay tín chấp đó là sự tín nhiệm (“tài sản” đảm bảo tiền vay) lại là loại tài sản vô hình, không thể đem đấu giá để thu hồi vốn cho vay. Vì vậy, quyết định cho vay tín chấp của các ngân hàng và tổ chức tín dụng cần đặc biệt cẩn trọng và vì vậy, khó khăn là lẽ đương nhiên.

Hình thức và nội dung vay tín chấp:

Tại Điều 345. Hình thức, nội dung tín chấp Bộ Luật Dân sự 2015 quy định:

“Việc cho vay có bảo đảm bằng tín chấp phải được lập thành văn bản có xác nhận của tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm bằng tín chấp về điều kiện, hoàn cảnh của bên vay vốn.

Thỏa thuận bảo đảm bằng tín chấp phải cụ thể về số tiền, mục đích, thời hạn vay, lãi suất, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người vay, tổ chức tín dụng cho vay và tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm bằng tín chấp”

Căn cứ vào quy định của Luật dân sự 2015 quy định như trên thì ta thấy vay tín chấp thuộc nhóm các biện pháp bảo đảm có tính chất đối nhân, là các biện pháp bảo đảm không cần tài sản đảm bảo. Tín chấp thuần túy là dùng uy tín để cam kết về khả năng trả nợ của bên có nghĩa vụ. Có thể thấy, so với các biện pháp bảo đảm khác như: cầm cố, thế chấp, bảo lãnh,…tính chất đảm bảo của tín chấp rất thấp. Vì vậy, việc cho vay có đảm bảo bằng tín chấp phải được lập thành văn bản và có xác nhận của tổ chức chính trị -xã hội đảm bảo bằng tín chấp về điều kiện, hoàn cảnh của bên vay vốn. Vì tín chấp được xem là một chính sách xóa đói, giảm nghèo của Nhà nước, do đó, bên vay vốn phải là cá nhân, hộ gia đình nghèo không có khả năng vay vốn bằng biện pháp bảo đảm bằng tài sản. Quy định chặt chẽ về hình thức nhằm đảm bảo tính xác thực của việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng biện pháp tín chấp. Quy định này nhằm đảm bảo các thông tin về bên vay là đầy đủ và xác thực, để hạn chế rủi ro, còn trên thực tế, khi bên vay không trả được nợ, thì bên nhận bảo đảm cũng không thể xử lý uy tín của tổ chức chính trị – xã hội để đảm bảo cho khoản vay được. Đó không phải yếu tố vật chất để có thể xử lý, thu hồi nợ.

Pháp luật cũng quy định rõ về nội dung của hình thức vay tín chấp cũng nhằm mục đích xác nhận đúng, đầy đủ thông tin về bên vay vốn. Vì chỉ cá nhân, hộ gia đình đáp ứng đủ điều kiện mới có thể vay vốn theo hình thức tín chấp, tránh việc cung cấp, tiếp nhận thông tin sai lệch đem lại rủi ro cho các tổ chức tín dụng. Theo đó, nội dung tín chấp bao gồm: số tiền vay, mục đích vay, lãi suất, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người vay, tổ chức tín dụng cho vay, và tổ chức chính trị – xã hội đảm bảo bằng tín chấp. cụ thể bao gồm các nội dung đó là:

Thứ nhất, về nội dung và lãi suất cho vay tín chấp thì trong hợp đồng cho vay phải ghi rõ số tiền vay và lãi suất. Số tiền vay là căn cứ để xác định lãi suất, số tiền vay càng nhiều thì lãi suất càng cao. Số tiền vay ghi nhận trong hợp đồng và số tiền vay trên thực tế phải trùng khớp với nhau, đó là căn cứ để xác định nghĩa vụ trả nợ của bên vay.

Thứ hai, nội dung cần lưu ý đó chính là mục đích vay tín chấp, căn cứ vào quy định tại Điều 344 Bộ Luật dân sự năm 2015 thì mục đích khi vay vốn có biện pháp bảo đảm bằng tín chấp là sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng. Khoản vay sản xuất, kinh doanh bao gồm các mục đích như đầu tư mua sắm các loại vật tư, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón, công cụ lao động,…; đầu tư làm nghề thủ công, nuôi trồng, đánh bắt,….Khoản vay tiêu dùng bao gồm: giải quyết nhu cầu về nhà ở, nước sạch, đầu tư chi phí học tập,…Mục đích vay vốn có vai trò quan trọng, bắt buộc các bên phải thỏa thuận khi vay vốn. Đó là căn cứ để tổ chức tín dụng ra quyết định sản phẩm cho vay, phương thức cho vay, mức cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay,…

Cuối cùng đó là thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ vay tín chấp. Trong quan hệ cho vay bảo đảm bằng tín chấp có 03 chủ thể: bên cho vay là tổ chức dụng, bên vay là cá nhân – hộ gia đình, và bên đảm bảo bằng tín chấp là tổ chức chính trị – xã hội. Điều 46 nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành Bộ luật Dân sự về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong tín chấp như sau:

“Điều 46. Quyền, nghĩa vụ của các bên trong tín chấp

1. Bên bảo đảm bằng tín chấp có quyền, nghĩa vụ:

a) Chủ động hoặc phối hợp chặt chẽ với tổ chức tín dụng cho vay để giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện cho người vay; giám sát việc

sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả; đôn đốc trả nợ đầy đủ, đúng hạn;

b) Xác nhận theo yêu cầu của tổ chức tín dụng cho vay về điều kiện, hoàn cảnh của người vay khi vay vốn;

c) Quyền, nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc do Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định.

2. Tổ chức tín dụng cho vay có quyền, nghĩa vụ:

a) Yêu cầu bên bảo đảm bằng tín chấp phối hợp trong việc kiểm tra sử dụng vốn vay và đôn đốc trả nợ;

b) Phối hợp với bên bảo đảm bằng tín chấp trong việc cho vay và thu hồi nợ;

c) Quyền, nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc do Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định.

3. Người vay có quyền, nghĩa vụ:

a) Sử dụng vốn vay để sản xuất, kinh doanh, phục vụ nhu cầu đời sống hoặc tiêu dùng phù hợp với mục đích vay;

b) Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức tín dụng cho vay và bên bảo đảm bằng tín chấp kiểm tra việc sử dụng vốn vay;

c) Trả nợ đầy đủ gốc và lãi vay (nếu có) đúng hạn cho tổ chức tín dụng cho vay;

d) Quyền, nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc do Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định”

Như vậy Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn hiểu quy định của pháp luật về khái niệm, đặc điểm và nội dung của tín chấp. Trong trường hợp quý khách có bất kỳ các vấn đề nào gặp khó khăn đừng ngần ngại liên hệ Luật Nam Sơn để được hỗ trợ trực tiếp bởi  Luật sư Hà, Luật sư Trung và các luật sư chuyên môn khác.

Điện thoại: 1900.633.246

Gmail: Luatnamson79@gmail.com

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook