Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm: 07 điều cần lưu ý

tranh tụng tại phiên sơ thẩm và phúc thẩm

Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm: 07 điều cần lưu ý

Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm bao gồm việc trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ án.

tranh tụng tại phiên sơ thẩm và phúc thẩm

Nội dung của tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm thể hiện qua các hoạt động tố tụng sau:

          Thứ nhất, nghe trình bày của đương sự:

Cụ thể, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan lần lượt trình bày yêu cầu, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà họ bảo vệ. Các yêu cầu, ý kiến đó nhằm để bảo vệ, đảm bảo lợi ích của đương sự, cụ thể việc trình bày tuân thủ theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Nếu các đương sự nêu trên không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì họ tự trình bày về yêu cầu, đề nghị của mình và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp. Đây là một quy định có cơ sở và hợp lý để bảo vệ quyền tranh tụng của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm.

          Thứ hai, hỏi tại phiên tòa:

Thứ tự và nguyên tắc hỏi tại phiên tòa được thực hiện theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Theo đó, sau khi nghe xong phần trình bày của đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, theo sự điều hành của chủ tọa phiên tòa, thứ tự hỏi được thực hiện theo thứ tự: Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn => bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn => người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan => người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan => Những người tham gia tố tụng khác => Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân => Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Việc đặt câu hỏi phải tuân theo quy định của Bộ luật này: rõ ràng, nghiêm túc, không trùng lắp, không lợi dụng việc hỏi và trả lời để xâm phạm danh dự, nhân phẩm của những người tham gia tố tụng. Hỏi theo một thứ tự rõ ràng, được pháp luật quy định sẽ đảm bảo sự khách quan của quá trình tranh tụng.

          Thứ ba, công bố tài liệu, chứng cứ của vụ án: thực hiện theo quy định tại Điều 254 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

          Thứ tư, nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chưa âm thanh, hình ảnh:

Thực hiện theo quy định tại Điều 255 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, trừ trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bảo vệ người chưa thành niên theo yêu cầu của đương sự thì Hội đồng xét xử không công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

          Thứ năm, xem xét vật chứng: thực hiện theo quy định tại Điều 256 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

          Thứ sáu, tranh luận tại phiên tòa:

Trình tự phát biểu khi tranh luận phải tuân theo quy định tại Điều 260 BLTTDS 2015. Khi phát biểu về đánh giá chứng cứ, người tham gia tranh luận phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa cũng như kết quả của việc hỏi tại phiên tòa. Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác.

          Thứ bảy, đối với phiên tòa phúc thẩm, nội dung và phương thức tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 247 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:

Quy định này được hiểu là pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam chỉ có một nội dung và phương thức tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm. Tuy nhiên, khi thực hiện quy định tại Điều 247 lại cần phải thực hiện theo điều luật quy định về vấn đề đó. Ví dụ 1: Khi Hội đồng xét xử của Tòa án thực hiện việc “hỏi” quy định tại khoản 1 Điều 247, thì việc hỏi phải thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 249 và việc đặt câu hỏi phải thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 249 là: “Việc đặt câu hỏi phải rõ ràng, nghiêm túc, không trùng lắp, không lợi dụng việc hỏi và trả lời để xâm phạm danh dự, nhân phẩm của những người tham gia tố tụng”. Ví dụ 2: Khi Hội đồng xét xử của Tòa án thực hiện việc “đối đáp” quy định tại khoản 1 Điều 247 thì việc đối đáp phải thực hiện theo quy định tại Điều 261. Hoạt động tranh tụng của các đương sự trong phiên tòa phúc thẩm thường được thực hiện rất quyết liệt, rõ nét. Tại phiên tòa phúc thẩm, một lần nữa các đương sự lại nỗ lực, công khai đưa ra toàn bộ các chứng cứ, lý lẽ, lập luận để tranh luận, đối đáp với bên đối lập nhằm bảo vệ quyền, lợi ích cho mình. Các đương sự có thể hỏi lẫn nhau về những vấn đề cần tranh tụng, tuy nhiên việc hỏi phải được thực hiện đối với những vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm (khoản 2 Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015) và tranh luận chỉ về những vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm và đã được hỏi tại phiên tòa phúc thẩm (Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).

Như vậy, Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn hiểu quy định của pháp luật về các điểm lưu ý đối với việc tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm và phúc thẩm. Trong trường hợp quý khách có bất kỳ thắc mắc cần giải đáp liên quan đến pháp luật, quý khách có thể liên hệ qua:

Hotline 1900.633.246;

Email: Luatnamson79@gmail.com để được tư vấn trực tiếp bởi Luật sư HàLuật sư Trung và các Luật sư có kinh nghiệm khác.

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook