Thực hiện công việc không có ủy quyền theo quy định Bộ Luật dân sự 2015

thuc-hien-cong-viec-khong-co-uy-quyen

Thực hiện công việc không có ủy quyền theo quy định Bộ Luật dân sự 2015

rong các quan hệ dân sự, đại diện theo ủy quyền là một chế định quan trọng được sử dụng rất phổ biến và được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật liên quan. Tuy nhiên, trong thực tế, cũng có những trường hợp không cần ủy quyền mà bên thứ ba vẫn thay mặt cho các chủ thể có nghĩa vụ thực hiện công việc của họ. Bài viết dưới đây Luật Nam Sơn sẽ giúp người đọc tìm hiểu quy định về thực hiện công việc không có ủy quyền là gì và được quy định như thế nào trong Bộ luật dân sự 2015.

thuc-hien-cong-viec-khong-co-uy-quyen

Khái niệm về thực hiện công việc không có ủy quyền:

Theo quy định tại Điều 574 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.”

Điều kiện phát sinh việc thực hiện công việc không có ủy quyền:

Người thực hiện công việc không có nghĩa vụ thực hiện công việc đó

Trong thực tế, có những trường hợp một người hoàn toàn tự nguyện làm thay công việc cho người khác trên tinh thần tương thân, tương trợ để giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn tạm thời nên giữa họ không có mối quan hệ pháp lí nào về công việc được thực hiện.

Công việc thực hiện trong quan hệ pháp luật này không phải là một nghĩa vụ pháp lí có tính chất bắt buộc. Trước thời điểm thực hiện công việc, hai bên chủ thể hoàn toàn không có sự ràng buộc. Pháp luật chỉ quy định người thực hiện công việc đó có nghĩa vụ thực hiện công việc phù hợp với khả năng và điều kiện của mình. Tuy nhiên, khi đã thực hiện thì người thực hiện phải có thiện chí và phải tuân thủ quy định về Nghĩa vụ thực hiện công việc không có ủy quyền.

Thực hiện công việc vì lợi ích của người có công việc

Trước khi tiến hành công việc, người thực hiện công việc phải ý thức được nếu công việc đó không có ai thực hiện có thể gây thiệt hại cho chủ sở hữu hoặc người có công việc. Chủ sở hữu hoặc người có công việc sẽ mất đi một số lợi ích vật chất nhất định. Người thực hiện công việc coi đó là bổn phận của mình và phải xuất phát từ lợi ích của người có công việc để thực hiện những hành vi phù hợp. Tuy nhiên, khi thực hiện công việc mà biết trước hoặc đoán được ý định của người có công việc thì phải thực hiện đúng ý định đó.

Các trường hợp không được ủy quyền:

Theo quy định của pháp luật hiện hành quy định những trường hợp sau đây không được ủy quyền, cụ thể bao gồm:

– Các chủ thể không được ủy quyền đối với việc đăng ký kết hôn quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 18 Luật Hộ tịch 2014.

– Các chủ thể không được ủy quyền đối với việc ly hôn. Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì họ là người đại diện quy định cụ thể tại Khoản 4 Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

– Các chủ thể không được ủy quyền cho người khác công chứng di chúc của mình quy định cụ thể tại Điều 56 Luật Công chứng 2014.

Nghĩa vụ của người thực hiện công việc không có ủy quyền:

Theo quy định tại Điều 575 Bộ luật dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ thực hiện công việc không có ủy quyền như sau:

“1. Người thực hiện công việc không có ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc phù hợp với khả năng, điều kiện của mình.

2. Người thực hiện công việc không có ủy quyền phải thực hiện công việc như công việc của chính mình; nếu biết hoặc đoán biết được ý định của người có công việc thì phải thực hiện công việc phù hợp với ý định đó.

3. Người thực hiện công việc không có ủy quyền phải báo cho người có công việc được thực hiện về quá trình, kết quả thực hiện công việc nếu có yêu cầu, trừ trường hợp người có công việc đã biết hoặc người thực hiện công việc không có ủy quyền không biết nơi cư trú hoặc trụ sở của người đó.

4. Trường hợp người có công việc được thực hiện chết, nếu là cá nhân hoặc chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân thì người thực hiện công việc không có ủy quyền phải tiếp tục thực hiện công việc cho đến khi người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện đã tiếp nhận.

5. Trường hợp có lý do chính đáng mà người thực hiện công việc không có ủy quyền không thể tiếp tục đảm nhận công việc thì phải báo cho người có công việc được thực hiện, người đại diện hoặc người thân thích của người này hoặc có thể nhờ người khác thay mình đảm nhận việc thực hiện công việc.”

Bên cạnh đó còn có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại (Điều 577 BLDS 2015)

+ Khi người thực hiện công việc không có ủy quyền cố ý gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc thì phải bồi thường thiệt hại cho người có công việc được thực hiện.

+ Nếu người thực hiện công việc không có ủy quyền do vô ý mà gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc thì căn cứ vào hoàn cảnh đảm nhận công việc, người đó có thể được giảm mức bồi thường.

Nghĩa vụ của người có công việc được thực hiện

Nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện với người thực hiện công việc không được uỷ quyền được quy định tại Điều 576 BLDS 2015:

“Điều 576. Nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện

1. Người có công việc được thực hiện phải tiếp nhận công việc khi người thực hiện công việc không có ủy quyền bàn giao công việc và thanh toán các chi phí hợp lý mà người thực hiện công việc không có ủy quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc, kể cả trường hợp công việc không đạt được kết quả theo ý muốn của mình.

2. Người có công việc được thực hiện phải trả cho người thực hiện công việc không có ủy quyền một khoản thù lao khi người này thực hiện công việc chu đáo, có lợi cho mình, trừ trường hợp người thực hiện công việc không có ủy quyền từ chối.”

 Các trường hợp chấm dứt thực hiện công việc không có uỷ quyền

Việc thực hiện công việc không có ủy quyền chấm dứt trong trường hợp sau đây:

– Theo yêu cầu của người có công việc được thực hiện.

– Người có công việc được thực hiện, người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện tiếp nhận công việc.

– Người thực hiện công việc không có ủy quyền không thể tiếp tục thực hiện công việc theo quy định tại khoản 5 Điều 575 của Bộ luật này.

– Người thực hiện công việc không có ủy quyền chết, nếu là cá nhân hoặc chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân.

Như vậy Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn hiểu quy định của pháp luật về vấn đề thực hiện công việc không có ủy quyền theo quy định Bộ Luật dân sự 2015. Trong trường hợp quý khách có bất kỳ các vấn đề nào gặp khó khăn đừng ngần ngại liên hệ Luật Nam Sơn để được hỗ trợ trực tiếp bởi Luật sư Hà, Luật sư Trung và các luật sư chuyên môn khác.

Điện thoại: 1900.633.246

Gmail: Luatnamson79@gmail.com

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook