Thẩm quyền, thủ tục ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự ở Toà án sơ thẩm: 01 số điều cần biết.

Hợp đồng dịch vụ

Thẩm quyền, thủ tục ban hành quyết định đình chỉ đối với vụ án dân sự

Thẩm quyền, thủ tục ban hành quyết định đình chỉ giải quyết VVDS

Thẩm quyền đình chỉ đối với vụ án dân sự

Theo quy định tại Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại cấp sơ thẩm được xác định như sau:

– Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Mặc dù không hề có quy định trực tiếp giải thích thời điểm trước khi mở phiên tòa là thời điểm nào trong các giai đoạn giải quyết vụ án dân sự. Tuy nhiên liên hệ quy định tại khoản 2 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án và thực tiễn xét xử của các Tòa án thì thời điểm trước khi mở phiên tòa có thể hiểu là thời điểm trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Như vậy, trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại cấp sơ thẩm thuộc về Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án.

– Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Tại phiên tòa được hiểu kể từ sau khi Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử thì thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thuộc về Hội đồng xét xử và phải được giải quyết ở tại phiên tòa.

Thủ tục đình chỉ đối với vụ án dân sự

Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: Khi có căn cứ Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu có yêu cầu. Và điều luật cũng quy định mới về việc Tòa án phải sao chụp và lưu lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo; điều này là cần thiết để làm cơ sở cho việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị sau này. Đồng thời, điều luật này đã rút ngắn thời hạn gửi quyết định đình chỉ giải quyết vụ án cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp chỉ còn 03 ngày làm việc thay vì 05 ngày làm việc như Bộ luật cũ. Quy định này nhằm đảm bảo tốt hơn quyền kháng cáo, kháng nghị của đương sự và quyền kháng nghị của Viện kiểm sát đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 217 đã kế thừa tinh thần của quy định về thủ tục đình chỉ đối với một phần yêu cầu, thay đổi địa vị tố tụng tại khoản 2 Điều 218, Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 đồng thời pháp điển hóa các hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao tại khoản 1 Điều 24 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP. Theo đó, khoản 2 của điều luật này theo hướng Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án nếu đương sự rút toàn bộ yêu cầu tố tụng. Nếu trong vụ án có cả yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thì tùy từng trường hợp Tòa án ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hay quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu của từng đương sự. Ngoài ra, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 còn bổ sung thêm quy định đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án thì Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề có liên quan khác. Điểm mới quan trọng này nhằm khắc phục vướng mắc trong trường hợp vụ án đã được xét xử và bản án có hiệu lực thi hành án xong, đáp ứng yêu cầu về đảm bảo công tác gắn kết giữa công tác xét xử và thi hành án dân sự.

Thẩm quyền, thủ tục ban hành quyết định đình chỉ đối với việc dân sự

Như đã đề cập ở trên, Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành vẫn chưa quy định cụ thể về đình chỉ giải quyết việc dân sự và cũng chưa có văn bản nào của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn về vấn đề này. Căn cứ vào Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nếu áp dụng các quy định về thẩm quyền và thủ tục ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vào việc dân sự thì sẽ có nhiều điểm bất cập. Xuất phát từ sự khác biệt giữa bản chất pháp lý (việc dân sự là những việc không có tranh chấp) cũng như sự khác nhau trong các giai đoạn, thủ tục giải quyết ở Toà án cấp sơ thẩm (việc dân sự không có thủ tục hoà giải “trừ yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, …” của vụ án dân sự và việc dân sự, nên chúng ta không thể áp dụng những căn cứ đình chỉ được áp dụng cho những vụ việc có tranh chấp của vụ án dân sự để làm căn cứ giải quyết đối với việc dân sự. Chính vì vậy, Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành cần sửa đổi để cụ thể hoá vấn đề này hoặc Toà án nhân dân tối cao nên ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể để tráng những vướng mắc, lúng túng khi áp dụng trong thực tiễn.

Như vậy, Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn hiểu quy định của pháp luật về thẩm quyền, thủ tục ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự ở Toà án sơ thẩm. Trong trường hợp quý khách có bất kỳ thắc mắc cần giải đáp liên quan đến pháp luật, quý khách có thể liên hệ qua:

Hotline 1900.633.246;

Email: Luatnamson79@gmail.com để được tư vấn trực tiếp bởi Luật sư HàLuật sư Trung và các Luật sư có kinh nghiệm khác.

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook