Thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định Bộ Luật tố tụng dân sự 2015

vu-viec-dan-su-co-yeu-to-nươc-ngoai

Thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định Bộ Luật tố tụng dân sự 2015

Theo Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo loại việc trừ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện.

vu-viec-dan-su-co-yeu-to-nươc-ngoai

* Căn cứ về bị đơn:

Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong các trường hợp sau đây:

Bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam.

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015, đối tượng bị đơn được nhắc đến theo ý chí của nhà làm luật đang được hiểu theo hai trường hợp:

– Cá nhân là bị đơn trong vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài phải cùng một lúc thỏa mãn đủ các dấu hiệu cư trú, làm ăn và sinh sống lâu dài tại Việt Nam hoặc bị đơn thường trú và làm ăn lâu dài tại Việt Nam

– Cá nhân là bị đơn chỉ cần thỏa mãn một trong các yếu tố trong ba yếu tố trên là đủ điều kiện làm phát sinh thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án Việt Nam.

Bị đơn là cơ quan, tổ chức.

Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015 thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong hai trường hợp sau đối với bị đơn là cơ quan, tổ chức.

b.1. Có trụ sở tại Việt Nam:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 79 BLDS 2015 thì: “Trụ sở của pháp nhân là nơi đặt cơ quan điều hành của pháp nhân”. Vậy nếu cơ quan, tổ chức là bị đơn có cơ quan điều hành tại Việt Nam thì đã đủ thỏa mãn yếu tố để Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

b.2. Có chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam đối với các vụ việc liên quan đến hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức đó tại Việt Nam.

Đối với quy định này thì đối tượng sẽ bao gồm cả bị đơn là cơ quan, tổ chức Việt Nam có chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam trong vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

Theo quy định của BLDS 2015 thì chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, đây không phải là pháp nhân. Chi nhánh có nhiệm vụ thực hiện tòan bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân và văn phòng đại diện có nhiệm vụ đại diện trong phạm vi do pháp nhân giao, bảo vệ lợi ích của pháp nhân. Vì hai đối tượng trên không là pháp nhân nên tại khoản 6 Điều 84 BLDS đã khẳng định “Pháp nhân có quyền nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do chi nhánh, văn phòng đại diện xác lập thực hiện”.

Chính vì tính đặc thù của chi nhánh và văn phòng đại diện có nhiều hạn chế hơn so với pháp nhân nên thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam bị giới hạn trong phạm vi “các vụ việc liên quan đến hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức đó tại Việt Nam’’. Vì không có tư cách pháp nhân, nên các hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện bao gồm tham gia quan hệ hợp đồng, thực hiện các giao dịch dân sự đều chỉ có thể thực hiện trong phạm vi ủy quyền của pháp nhân mình.

b.3. Bị đơn có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam.

Căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015 thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong trường hợp bị đơn có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam.

Đồng thời, theo quy định tại Điều 105 BLDS 2015 thì tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản vào bao gồm bất động sản và động sản. Tuy nhiên hiện quy định pháp luật hiện hành không nêu rõ mức giá trị hoặc giới hạn cho tài sản cũng như sự liên quan đến tài sản đó trong vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

* Căn cứ theo tính chất vụ việc

Tòa án Việt Nam có thẩm quyền chung giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo tính chất vụ việc gồm có vụ việc chuyên trách và vụ việc dân sự nói chung.

Vụ việc chuyên trách

Căn cứ theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015, thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với vụ việc ly hôn được chia làm hai trường hợp:

Đối với vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết trong mọi trường hợp. Cho dù công dân Việt Nam cư trú ở nước sở tại hay cư trú ở nước ngoài thì chỉ cần một trong các bên có quốc tịch Việt Nam thì Tòa án Việt Nam sẽ là Tòa án có thẩm quyền.

Ví dụ: Ông A là người Trung Quốc, bà B là người Việt Nam. Năm 2014, hai ông bà kết hôn hợp pháp. Năm 2021, bà B yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn giữa bà và ông A. Trong trường hợp này, căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015, do một bên trong vụ việc ly hôn này là người có quốc tịch Việt Nam cho nên dù ông A và bà B cư trú ở Việt Nam, Trung Quốc hay một quốc gia nào khác thì Tòa án Việt Nam vẫn là Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc nêu trên.

Đối với vụ việc ly hôn giữa đương sự là người nước ngoài, tòa án Việt Nam chỉ có thẩm quyền trong trường hợp các bên trong quan hệ này đều cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam.

Ví dụ: Ông C và bà D đều là người có quốc tịch Hà Lan. Năm 2010, hai ông bà kết hôn. Năm 2011, ông C bị công ty điều đến quản lý chi nhánh tại Việt Nam cho nên cả hai vợ chồng quyết định chuyển đến Việt Nam sinh sống và làm việc. Năm 2019, do công ty hoạt động không như mong đợi, ông C liên tục uống rượu và có hành vi bạo hành bà D cho nên bà quyết định yêu cầu Tòa án Việt Nam giải quyết ly hôn giữa hai ông bà. Trong trường hợp này, do cả hai người đều cư trú, sinh sống lâu dài tại Việt Nam cho nên căn cứ theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015, Tòa án Việt Nam được xác định  có thẩm quyền giải quyết vụ việc nêu trên.

Vụ việc mang tính dân sự

Tòa án Việt Nam có thẩm quyền chung giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài bao gồm vụ việc về thương mại, lao động,… gắn với yếu tố về sự kiện pháp lý, tài sản, công việc thực hiện ở Việt Nam hoặc gắn kết với sự kiện pháp lý xảy ra ở nước ngoài nhưng có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân mang quốc tịch Việt Nam hoặc có trụ sở, nơi cư trú tại Việt Nam.

b.1. Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam, đối tượng của quan hệ đó là tài sản trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam.

Theo quy định này, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền đối với vụ việc nước ngoài trong ba trường hợp:

  • Trường hợp 1: Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam.

Ở trường hợp này, bất kỳ một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nào mà có sự kiện pháp lý xảy ra tại Việt Nam thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam (điểm đ khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015).

Ví dụ: Ngày 16/12/2018, công ty A chuyên sản xuất mặt hàng bánh kẹo (thành lập theo pháp luật Việt Nam) ký kết hợp đồng độc quyền xuất khẩu mặt hàng bánh dừa nướng với công ty xuất nhập khẩu C (có trụ sở tại Hàn Quốc) sang thị trường Hàn Quốc. Tuy nhiên sau đó vào năm 2020, công ty A mất khả năng thanh toán không thể thực hiện nghĩa vụ đối với công ty B. Vì vậy, công ty B nộp đơn yêu cầu Tòa án Việt Nam giải quyết tranh chấp nêu trên.

Do trong quan hệ có yếu tố nước ngoài này, căn cứ xác lập và làm thay đổi quan hệ diễn ra tại Việt Nam cho nên căn cứ vào quy định tại điểm d khoản 1 Điều 469 thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết.

  • Trường hợp 2: Vụ việc về quan hệ dân sự có đối tượng là tài sản trên lãnh thổ Việt Nam.

Ở trường hợp này, căn cứ về tài sản được giới hạn trong phạm vi là tài sản tranh chấp tọa lạc tại Việt Nam. Chỉ cần thỏa mãn điều kiện này, Tòa án Việt Nam được xác định  là cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo điểm d khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015.

Ví dụ: Công ty X là chủ đầu tư của dự án căn hộ chung cư cao cấp, được thành lập theo pháp luật Việt Nam, B là người Singapore. Năm 2019, công ty X và B ký hết hợp đồng mua bán căn hộ chung cư cao cấp tọa lạc tại quận Bình Thạnh với giá 10 tỷ đồng. Đến thời hạn giao nhận nhà trong hợp đồng tuy nhiên công ty X vẫn không thể giao nhà theo đúng thời hạn đã định cho B. B làm đơn khởi kiện gửi trực tiếp đến Tòa án Việt Nam yêu cầu công ty X giao căn nhà như trong thỏa thuận hợp đồng.

Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 469 BLTTDS, do tài sản tranh chấp trong vụ án này là tài sản trên lãnh thổ Việt Nam, cho nên đủ căn cứ để xác định  Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết.

  • Trường hợp 3: Vụ việc về quan hệ dân sự mà công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam.

Nếu trước đây, tại điểm e khoản 2 Điều 410 BLTTDS 2004 quy định về việc xác định  thẩm quyền của tòa án Việt Nam đối với tranh chấp phát sinh từ hợp đồng dựa trên dấu hiệu nơi thực hiện hợp đồng thì đến BLTTDS 2015, các nhà làm luật lại quy định việc xác định  thẩm quyền của tòa án Việt Nam dựa trên yếu tố “công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam”. Đây là dấu hiệu áp dụng chung đối với tất cả vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, ngoại trừ vụ việc về ly hôn và vụ việc thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam.

Ví dụ: Công ty A là công ty được thành lập theo pháp luật Việt Nam, chuyên gia công giày dép cho các công ty nước ngoài. Năm 2016, công ty A ký kết hợp đồng gia công giày dép độc quyền cho công ty B (được thành lập theo pháp luật Thái Lan) xuất khẩu sang thị trường Thái Lan tại Việt Nam.Tuy nhiên đến tháng 8/2016, công ty A có hành vi không hoàn thành đơn hàng và giao hàng đúng thời hạn mặc dù công ty B đã thực hiện nghĩa vụ đúng như trong thỏa thuận, cho nên công ty B có đơn yêu cầu Tòa án Việt Nam giải quyết tranh chấp nêu trên.

Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015, do công việc gia công hàng hóa được thực hiện tại lãnh thổ Việt Nam cho nên Tòa án Việt Nam được xác định  là có thẩm quyền giải quyết.

b.2. Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam có trụ sở, nơi cư trú tại Việt Nam.

Theo quy định này, Tòa án Việt Nam sẽ có thẩm quyền đối với vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nếu thỏa mãn được đồng thời hai điều kiện:

(i) vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam.

(ii) vụ việc đó phải liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc có trụ sở, nơi cư trú tại Việt Nam.

Trong trường hợp, do đã đáp ứng đủ 2 điều kiện được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015 cho nên Tòa án Việt Nam có thẩm quyền vụ việc lao động nêu trên.

So sánh với BLTTDS 2004, việc loại bỏ điều kiện về đương sự (phải là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam) và thêm vào điều kiện “vụ việc phải có yếu tố liên quan đến Việt Nam” đã mở rộng thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Ví dụ: Năm 2008, A là công ty xuất khẩu lao động tại Việt Nam ký kết hợp đồng lao động với công ty B (có trụ sở tại Nhật Bản) nhằm đưa 200 người lao động Việt Nam làm việc tại nhà máy sản xuất quần áo ở công ty này. Tuy nhiên, sau khi đưa người lao động sang Nhật Bản làm việc, công ty B nhận thấy tay nghề của người lao động mà công ty A cung ứng không đáp ứng được đủ các điều kiện mà công ty này  cam kết trong hợp đồng cho nên công ty B đơn phương hủy hợp đồng lao động. Nhận thấy bên B chấm dứt hợp đồng không có căn cứ, công ty A làm đơn yêu cầu Tòa án Việt Nam giải quyết tranh chấp nêu trên.

Trong trường hợp, do đã đáp ứng đủ 2 điều kiện được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015 cho nên Tòa án Việt Nam có thẩm quyền vụ việc lao động nêu trên.

Như vậy, thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam được quy định tại khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015 xác định  thẩm quyền chung dựa trên căn cứ về bị đơn, về tính chất vụ việc dân sự mang tính chuyên trách (vụ việc ly hôn) hoặc mang tính chất chung (vụ việc dân sự, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình (trừ vụ việc ly hôn).

Như vậy Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn hiểu quy định của pháp luật về Thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định Bộ Luật tố tụng dân sự 2015. Trong trường hợp quý khách có bất kỳ các vấn đề nào gặp khó khăn đừng ngần ngại liên hệ Luật Nam Sơn để được hỗ trợ trực tiếp bởi  Luật sư Hà, Luật sư Trung và các luật sư chuyên môn khác.

Điện thoại: 1900.633.246

Gmail: Luatnamson79@gmail.com

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook