Tặng cho tài sản có điều kiện là gì? Được quy định như thế nào?

tang-cho-tai-san-co-dieu-kien

Tặng cho tài sản có điều kiện là gì? Được quy định như thế nào?

Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận. Vậy hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện được quy định như thế nào? Bài viết dưới đây Luật Nam Sơn sẽ làm rõ vấn đề này.
tang-cho-tai-san-co-dieu-kien

Cơ sở pháp lý của tặng cho tài sản có điều kiện

Đối với việc tặng cho tài sản có điều kiện được quy định tại Điều 462 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể:

“Điều 462. Tặng cho tài sản có điều kiện

1. Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.

3. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.”

Quy định về hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện

Như vậy, theo quy định của phấp luật, ta nhận thấy việc thực hiện điều kiện có thể tiến hành trước hoặc sau khi tặng cho tài sản, nó sẽ phụ thuộc vào sự thống nhất ý chí giữa hai bên là bên tặng cho và bên được tặng cho.

Trong trường hợp cần phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện. Đây là một quy định hoàn toàn phù hợp với thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tặng cho và giúp đảm bảo quyền lợi của các bên.

Khi chưa thực hiện việc chuyển giao tài sản thì hợp đồng tặng cho chưa phát sinh hiệu lực, chính bởi vậy , mặc dù bên được tặng cho đã hoàn thành điều kiện thì bên tặng cho không bắt buộc phải chuyển giao tài sản mà thay vào đó bên tặng cho thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện. Việc thanh toán của bên tặng cho đối với bên được tặng cho thực chất là thanh toán các chi phí mà bên được tặng cho đã bỏ ra để thực hiện điều kiện.

Đối với trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Bởi vì để nhận được tài sản thì bên được tặng cho phải hoàn thành điều kiện, chính bưởi vậy, nếu bên được tặng cho không thực hiện điều kiện đồng nghĩa với việc họ không được nhận tài sản và phải trả lại cho bên tặng cho. Ngay cả khi nếu trong thời gian giữa tài sản, bên được tặng cho làm mất mát, hư hỏng tài sản thì còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên tặng cho.

Cùng đặc điểm, tính chất với hợp đồng tặng cho tài sản thông thường, hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện là hợp đồng thực tế. Theo đó, thời điềm giao kết không làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng mà chỉ khi bên tặng cho giao tài sản và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho thì hợp đồng mới phát sinh hiệu lực.

Tuy nhiên, với quy định tại Điều 462 Bộ luật dân sự 2015 cần lưu ý một số vấn đề về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện như sau:

– Trường hợp 1: nghĩa vụ, công việc phải được thực hiện trước và đã hoàn thành nhưng bên tặng cho không giao tài sản tặng cho: Lúc này bên được tặng cho không thể nói là bên tặng cho vi phạm hợp đồng và phải bồi thường thiệt hại cho mình bởi hợp đồng tặng cho chưa phát sinh hiệu lực. Trường hợp này, pháp luật chỉ yêu cầu bên tặng cho phải thanh toán chi phí thực hiện nghĩa vụ cho bên được tặng cho. Đến đây, hợp đồng tặng cho ban đầu dường như là một hợp đồng dịch vụ, và khi có tranh chấp sẽ áp dụng các quy định của hợp đồng dịch vụ để giải quyết.

Quy định như vậy là hợp lý, bởi theo quy định của pháp luật về sở hữu, chủ sở hữu tài sản có toàn quyền định đoạt đối với tài sản của mình. Do đó, họ có quyền tặng cho, bán, tiêu hủy… tài sản tùy ý. Hơn nữa, trong thời gian bên được tặng cho thực hiện nghĩa vụ hợp đồng tặng cho không hề phát sinh hiệu lực, tài sản vẫn thuộc sở hữu của bên tặng cho nên họ có toàn quyền với tài sản, được cân nhắc quyết định có hay không tặng cho.

– Trường hợp 2: nghĩa vụ phải thực hiện sau khi tặng cho tài sản có điều kiện nhưng bên được tặng cho tài sản có điều kiện không thực hiện. Lúc này, hợp đồng tặng cho đã phát sinh hiệu lực nhưng chưa chấm dứt  bởi còn chờ điều kiện do các bên thỏa thuận xảy ra. Hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp này phụ thuộc vào việc thực hiện nghĩa vụ của bên được tặng cho: nghĩa vụ hoàn thành, hợp đồng chấm dứt; nghĩa  vụ không được hoàn thành hợp đồng bị hủy bỏ. Do đó, luật ghi nhận quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại cho bên có tài sản tặng cho.

Như vậy Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn hiểu quy định của pháp luật về  hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện. Trong trường hợp quý khách có bất kỳ các vấn đề nào gặp khó khăn đừng ngần ngại liên hệ Luật Nam Sơn để được hỗ trợ trực tiếp bởi  Luật sư Hà, Luật sư Trung và các luật sư chuyên môn khác.

Điện thoại: 1900.633.246

Gmail: Luatnamson79@gmail.com

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook