Quyền tự do tín ngưỡng? Hiến pháp 2013

Quyền tự do tín ngưỡng

Quyền tự do tín ngưỡng? Hiến pháp 2013

Quyền tự do tín ngưỡng là một vấn đề được nhiều người quan tâm. Vậy tín ngưỡng được pháp luật định nghĩa là gì? Quyền tự do tín ngưỡng được thể hiện bằng các văn bản pháp luật nào? Bài viết sau đây Luật Nam Sơn xin được giải đáp thắc mắc của quý bạn đọc.

Quyền tự do tín ngưỡng

Tín ngưỡng là gì?

Căn cứ tại khoản 1 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã định nghĩa về tín ngưỡng như sau:

“Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng.”

Tín ngưỡng ở Việt Nam mang một số nét đặc trưng như sau:

– Tín ngưỡng phản ánh đời sống tâm linh phong phú, đa dạng, sự khoan dung, độ lượng, nhân ái của con người và tinh thần đoàn kết toàn dân tộc.

– Mỗi tín ngưỡng mang những nét văn hóa riêng biệt nhưng đều hướng đến Chân – Thiện – Mỹ, góp phần tạo nên nét đẹp cho nền văn hóa đa dạng, phong phú về bản sắc của dân tộc.

– Vấn đề tín ngưỡng là vấn đề rất nhạy cảm, thường bị các thế lực thù địch tìm mọi cách lợi dụng tín ngưỡng để gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Một số loại tín ngưỡng phổ biến ở Việt Nam

Tín ngưỡng sùng bái thần linh

– Thổ công

Thổ Công là một vị thần được thờ trong gia đình, là vị thần trông coi nhà cửa, định đoạt họa phúc cho một gia đình. Sống ở đâu thì có Thổ Công ở đó giống như câu nói “Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá”.

Thổ Công được tin là vị thần quan trọng nhất trong gia đình. Mặc dù bàn thờ tổ tiên được ở giữa, còn bàn thờ Thổ Công ở bên trái nhưng khi cúng lễ tổ tiên, người ta đều phải khấn Thổ Công trước để xin phép cho tổ tiên về.

– Thần tài

Thần Tài là cũng một vị thần trong tín ngưỡng, được người Việt rất coi trọng và thờ cúng với mong ước thần đem lại nhiều may mắn, tài lộc trong cuộc sống.

Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên

Sùng bái tự nhiên là giai đoạn tất yếu trong quá trình phát triển của con người. Với cái gốc là nghề trồng lúa nước thì sự gắn bó với tự nhiên lại càng dài lâu và bền chặt. Chất âm tính của văn hóa nông nghiệp dẫn đến lối sống thiên về tình cảm trọng nữ, và trong tín ngưỡng, tình trạng nữ thần chiếm ưu thế.

– Thờ Tam phủ, Tứ phủ

Tam phủ chỉ ba vị thánh thần: Bà Trời (hay Mẫu Thượng Thiên), Bà Chúa Thượng (hay Mẫu Thượng Ngàn), Bà Nước (hay Mẫu Thoải). Tứ phủ gồm ba vị Mẫu đã nêu cộng thêm Mẫu Địa phủ.

– Thờ tứ pháp

Tứ phủ dùng để chỉ các bà thần Mây – Mưa – Sấm – Chớp, đại diện cho các hiện tượng tự nhiên có vai trò quan trọng trong nông nghiệp.

– Thờ động vật thực vật

Do xuất phát từ nước có gốc nông nghiệp trồng lúa nước nên tín ngưỡng sùng bái giới tự nhiên thể hiện ở việc thờ động vật, thực vật. Tín ngưỡng Việt Nam thờ các con vật như trâu, cóc, chim, rắn, cá sấu,… các con vật đó gần gũi với cuộc sống của người dân của một xã hội nông nghiệp. Thực vật được tôn sùng nhất là cây lúa, có Thần Lúa, Hồn Lúa, Mẹ Lúa,… đôi khi còn thờ Thần Cây Đa, Cây Cau,…

Tín ngưỡng sùng bái con người

– Hồn và vía

Người xưa cho rằng con người gồm phần thể xác và linh hồn, con người có ba hồn, nam có bảy vía và nữ có chín vía.

Hồn và vía dùng thể xác làm nơi trú ngụ, trường hợp hôn mê ở các mức độ khác nhau được giải thích là vía và hồn rời bỏ thể xác ở các mức độ khác nhau. Nếu phần thần của hồn mà rời khỏi thể xác thì tức người đó đã chết. Khi người chết, hồn nhẹ hơn sẽ bay sang kiếp khác còn vía nặng hơn sẽ bay là là mặt đất rồi tiêu tan.

– Tổ tiên

Người Việt cho rằng người đã mất đi về nơi chín suối. Bàn thờ tổ bao giờ cũng được bày ở nơi trang trọng nhất, cúng lễ bao giờ cũng có nước hoặc rượu cùng với những đồ tế lễ khác. Sau khi cúng xong thì đem đốt vàng mã thì đổ rượu hoặc nước lên đống tro tàn, nếu có khói bay lên trời, nước hòa với lửa thấm xuống đất thì tức là tổ tiên sẽ nhận được.

– Thành Hoàng làng

“Thành hoàng” là vị thần cai quản, che chở, định đoạt phúc họa cho một cộng đồng người sống trong một khu vực nhất định. Thành hoàng thường được người dân thờ trong Đình, Miếu. Việc thờ phụng Thành Hoàng tượng trưng cho sự bảo vệ làng xã và mong muốn sự trường tồn của các thôn ấp.

– Vua tổ

Đây là một tín ngưỡng thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc. Bởi Vua Hùng là vị vua tổ của người Việt, người có công sáng lập nước Văn Lang và mở ra thời đại Hùng Vương trong lịch sử.

– Tứ bất tử

Bốn vị thánh bất tử bao gồm: Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử và Liễu Hạnh. Trong đó:

+ Tản Viên thể hiện ước vọng chiến thắng thiên tai, lụt lội.

+ Thánh Gióng thể hiện cho tinh thần chống giặc ngoại xâm.

+ Chử Đồng Tử thể hiện cho cuộc sống phồn vinh về vật chất.

+ Liễu Hạnh thể hiện cho cuộc sống phồn vinh về tinh thần.

Tín ngưỡng phồn thực

Tín ngưỡng phồn thực là sự tin tưởng, ngưỡng mộ và sùng bái sự sinh sôi nảy nở của tự nhiên và con người. Tín ngưỡng phồn thực hình thành từ xa xưa, trên cơ sở tư duy trực quan, cảm tính của con người trước sự sinh sôi để duy trì sự sống. Họ nhìn thấy ở thực tiễn có một sức mạnh siêu nhiên và sùng bái các hiện vật, các hiện thực đó như thần thánh.

Ở Việt Nam việc thờ sinh thực khí gọi là thờ cúng Nõ Nường (Nõ – tượng trưng cho bộ phận sinh dục nam, Nường – tượng trưng cho bộ phận sinh dục nữ). Ngoài ra, tín ngưỡng phồn thực còn có các biến thể như: Thờ cột đá tự nhiên, thờ các kẽ đá nứt tự nhiên có hình dáng như bộ phận sinh dục nam, nữ;…

Quyền tự do tín ngưỡng

Điều 24 Hiến pháp năm 2013 quy định như sau:

Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Đồng thời, quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo còn được nêu trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Theo đó, nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng của mọi người:

– Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tín ngưỡng, tôn giáo nào.

– Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng; thực hành lễ nghi tín ngưỡng; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo.

– Mỗi người có quyền vào tu, học, tham gia lớp bồi dưỡng tại cơ sở tôn giáo.

– Chức sắc, chức việc, nhà tu hành có quyền tiến hành lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác.

– Người bị tạm giữ, người bị tạm giam; đang chấp hành hình phạt tù; đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cai nghiện bắt buộc cũng có quyền dùng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng.

Trên đây là những quy định của pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng Luật Nam Sơn xin gửi đến quý bạn đọc.

Bài viết trên chỉ mang tính chất tham khảo. Trường hợp có các thắc mắc cần giải đáp chi tiết liên quan đến pháp luật quý bạn đọc có thể liên hệ qua Hotline: 1900.633.246, email: Luatnamson79@gmail.com để được tư vấn trực tiếp bởi Luật sư HàLuật sư Trung và các Luật sư có kinh nghiệm khác.

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook