Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của con sau khi cha mẹ ly hôn và 1 số giải pháp

quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của con sau khi cha mẹ ly hôn

Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của con sau khi cha mẹ ly hôn và 1 số giải pháp

quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của con sau khi cha mẹ ly hôn

Ly hôn để lại hậu quả nặng nề cho gia đình và xã hội. Đặc biệt là đối với những đứa con – “quả ngọt” của tình yêu giữa hai vợ chồng. Vấn đề quan trọng và rất được xã hội quan tâm là làm sao bảo vệ quyền lợi cho những đứa con, đặc biệt là con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng bị khuyết tật, không có khả năng lao động khi cha mẹ ly hôn vì khi đó những đứa con này sẽ không được hưởng sự chăm sóc đầy đủ của cả cha và mẹ mà đáng lẽ ra chúng được hưởng. Đây cũng là một quyền của con cái đáng được hưởng sau khi cha mẹ ly hôn. Pháp luật với vai trò không thể thiếu là bảo vệ những đứa trẻ vô tội luôn quy định về hậu quả pháp lý của ly hôn, đặc biệt là quy định những quy phạm điều chỉnh về quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của con sau khi cha mẹ ly hôn. Tuy nhiên, có thể thấy một số quy định của pháp luật còn tồn tại những bất cập, khó áp dụng vào thực tiễn và điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đối tượng mà pháp luật đang bảo vệ. Chính vì vậy, bài viết này sẽ tập trung phân tích và làm rõ vấn đề trên.

Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của con sau khi cha mẹ ly hôn và 1 số giải pháp

Quan hệ giữa cha mẹ và con không phụ thuộc vào quan hệ hôn nhân giữa cha và mẹ nên sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con vẫn có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con. Sau khi ly hôn, cha mẹ và con không thể cùng chung sống với nhau dưới một mái nhà nên nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng được thực hiện thông qua hình thức cấp dưỡng. Theo khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (Luật HNGĐ) thì: “Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này.”. Như vậy, có thể khẳng định nghĩa vụ nuôi dưỡng là một phần trong nghĩa vụ cấp dưỡng và một nghĩa vụ tài sản vì có sự chuyển giao lợi ích vật chất từ cha mẹ sang con. Tuy nhiên, nghĩa vụ tài sản này không mang tính đền bù ngang giá và không diễn ra đồng thời. Khi những thành viên trong gia đình không sống chung với nhau, không thể trực tiếp quan tâm, nuôi dưỡng, chăm sóc nhau thì lúc này mới đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con.

Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của con đã thành niên trong một số trường hợp đặc biệt

Đối với con đã thành niên, về mặt nguyên tắc cha mẹ được giải phóng nghĩa vụ cấp dưỡng, tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt cha mẹ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con đã thành niên. Đó là trường hợp con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản đề tự nuôi mình. Điều kiện này bao gồm hai yếu tố là con đã thành niên bị mất khả năng lao động; không có tài sản để tự nuôi mình. Để xác định việc một người không có khả năng lao động thì thông thường sẽ dựa theo kết quả xem xét dưới góc độ y học cụ thể là dựa vào mức độ khuyết tật hoặc khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của cá nhân đó… Trường hợp con đã thành niên không có khả năng lao động mà cần nhận cấp dưỡng từ phía cha mẹ thì việc đánh giá không có khả năng lao động sẽ xác định dựa trên yếu tố mức độ khuyết tật của người con. Theo Khoản 2 Điều 1 Luật Người khuyết tật 2010 thì “người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.”. Khuyết tật có nhiều dạng như khuyết tật nghe, nhìn, tâm thần, thần kinh…và biểu hiện ở nhiều mức độ khuyết tật đặc biệt nặng, khuyết tật nặng, khuyết tật nhẹ. Dựa vào tỷ lệ suy giảm sức khỏe, người khuyết tật được phân loại một cách tương đối: người khuyết tật mất khả năng lao động hoàn toàn và vĩnh viễn, người khuyết tật bị tạm thời mất khả năng lao động hoặc còn khả năng lao động trong các lĩnh vực hạn chế, người khuyết tật có khả năng lao động trong những điều kiện được ưu ái. Người khuyết tật phải đối mặt với nhiều khó khăn trong cuộc sống do sự khiếm khuyết của cơ thể mang lại. Chính vì vậy, quyền được sống bình thường và được sự bảo vệ của người khuyết tật luôn gặp phải những thách thức.

Điều 15 Luật Trẻ em 2016 có quy định: “Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển toàn diện”.  Đồng thời, tại Khoản 1 Điều 71 Luật HNGĐ 2014 quy định: “Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.”. Khi vợ chồng ly hôn, họ không thể cùng nhau thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng con mà quyền, nghĩa vụ này được thực hiện bởi người trực tiếp nuôi con. Tuy vậy, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải thực hiện nghĩa vụ này một cách gián tiếp qua việc thăm nom và cấp dưỡng nuôi con. Như vậy, dù cha mẹ đã ly hôn nhưng nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con vẫn được pháp luật đặt ra cho cả hai người, trong đó việc chăm lo cho cuộc sống hằng ngày của con thuộc nghĩa vụ của người trực tiếp nuôi con. Cụ thể, tại Khoản 1 Điều 81 Luật HNGĐ 2014 có quy định rằng sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Một số bất cập

Thực tế, khoản tiền cấp dưỡng sau khi ly hôn là số tiền khó đòi đối với cả cơ quan thi hành án và phía bên người được cấp dưỡng. Cả trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng thực hiện việc cấp dưỡng theo đúng quy định của bản án đã tuyên thì cũng chưa hẳn đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Ví dụ: Anh A và chị B được Tòa án nhân dân huyện X xử cho ly hôn, bản án tòa tuyên chị B được nuôi con; cháu Nghĩa lúc đó 4 tuổi và buộc anh A cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 200.000 đồng từ tháng 5/2016 đến khi cháu Nghĩa tròn 18 tuổi. Như vậy, quy định của tòa án về mức cấp dưỡng là căn cứ vào mức thu nhập, giá cả thị trường tại thời điểm xét xử vụ án. Khi ly hôn hầu hết con còn tuổi rất nhỏ có trường hợp hơn 10 năm năm sau mới đủ 18 tuổi.

Như vậy, Tòa án cần giải thích rõ hơn cho các đương sự hiểu về việc họ có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ để phù hợp hơn với thực tế. Nếu người được hưởng cấp dưỡng còn quá nhỏ để hiểu biết những quy định đó thì thiết nghĩ nên có những người phụ trách việc giám sát quá trình cấp dưỡng, xem đã phù hợp với nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng hay chưa, việc giám sát như vậy sẽ khó khăn nhưng nếu thực hiện được sẽ bảo vệ được quyền lợi của người được cấp dưỡng và đồng thời phát hiện những sai phạm của bên cấp dưỡng.

Đối với nhóm con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống mình, quy định này được hiểu là các con được bảo vệ khi cha mẹ ly hôn bao gồm con chưa thành niên, con đã thành niên bị khuyết tật, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Có thể thấy đối tượng được bảo vệ khi cha mẹ ly hôn quá rộng, khó kiểm soát và có vài điểm bất cập. Trên thực tế không phải người thành niên khuyết tật nào cũng phải sống dưới sự chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ, có nhiều người khuyết tật vẫn có khả năng lao động như một người bình thường (đối với một số công việc đặc thù), có công việc ổn định với thu nhập có thể tự nuôi sống bản thân. Ví dụ, một nhà biên kịch bị sự cố và cụt hai chân, ông phải ngồi xe lăn nhưng việc bị mất đôi chân không làm ảnh hưởng đến khả năng sáng tác kịch bản của ông, hàng ngày ông chỉ cần ngồi và sáng tác kịch bản để nhận thù lao. Hoặc vẫn có thể có người bị khuyết tật không có khả năng lao động nhưng vẫn có tài sản để tự nuôi bản thân. Ví dụ, một người bị liệt nhưng được ông bà để lại thừa kế cho một số tiền rất lớn. Anh ta có thể nhờ người khác đem số tiền đó gửi tiết kiệm và dùng số tiền lãi suất ngân hàng để chi tiêu và thuê người phục vụ mình mà không cần phụ thuộc vào cha mẹ.

Xét thấy, vấn đề bảo vệ quyền của con chỉ cần thiết với con đã thành niên bị tàn tật, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, mà những người này đã nằm trong trong đối tượng con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Pháp luật cần ghi nhận, sửa đổi như trên để tránh sự trùng lặp không cần thiết này.

Giải pháp đề xuất:

Về xem xét nguyện vọng của con quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ 2014, cụ thể nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con muốn được ở cùng cha hoặc mẹ. Thực tế, quy định như vậy rất khó khăn trong việc áp dụng, bởi pháp luật không quy định một hình thức cụ thể về lấy lời khai của con, dẫn đến việc không thống nhất khi áp dụng pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng. Tác giả Lê Thị Mận đề xuất: “Để các phán quyết về quyền lợi của con chung, về xác định người trực tiếp nuôi con sau khi cha mẹ ly hôn đúng pháp luật và đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con, chúng tôi cho rằng việc tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện nhằm tạo hành lang pháp lý thông thoáng, đồng bộ cho hoạt động xét xử là vấn đề có ý nghĩa quan trọng. Theo đó, cần có cơ chế hướng dẫn hình thức lấy ý kiến để xét nguyện vọng của con theo hướng linh hoạt, phù hợp”.

Đề xuất này là hoàn toàn có cơ sở, hợp lý với thực trạng hiện nay của vấn đề này. Pháp luật không nên “máy móc” việc xem xét, nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên, cần quy định linh hoạt về hình thức hỏi ý kiến của con, có thể kết hợp lấy ý kiến đó từ những người thân quen của bé (cô giáo, bạn bè, ông bà, người thân khác,…) tạo tâm lý thoải mái giúp các con dễ nói ra mong muốn thực sự của mình.

Trên thực tế, việc đảm bảo quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của con sau khi cha mẹ ly hôn luôn là một vấn đề nan giải và nhận được sự quan tâm lớn của xã hội. Các nhà làm luật cần có thời gian để nghiên cứu, đưa ra các giải pháp tối ưu nhất để đảm bảo quyền lợi của những chủ thể này.

Việc ly hôn sẽ là một cách giải thoát cho sự bế tắc trong quan hệ hôn nhân của vợ chồng và hậu quả của nó sẽ bị hạn chế một cách tốt nhất nếu như chúng ta thực hiện tốt việc bảo vệ quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của con sau khi cha mẹ ly hôn, đặc biệt là con chưa thành niên, còn đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi bản thân mình. Việc nghiên cứu hoàn thiện cơ chế pháp lý và có giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của con sau khi cha mẹ ly hôn là điều mà nhóm tác giả hướng tới nhằm một phần nào đó giúp cho xã hội ngày càng tiến bộ, văn minh hơn.

Như vậy, Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn hiểu quy định của pháp luật về quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của con sau khi cha mẹ ly hôn. Trong trường hợp quý khách có bất kỳ thắc mắc cần giải đáp liên quan đến pháp luật, quý khách có thể liên hệ qua Hotline 1900.633.246, Email: Luatnamson79@gmail.com để được tư vấn trực tiếp bởi Luật sư Hà, Luật sư Trung và các Luật sư có kinh nghiệm khác.

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook