Quyền của người lập di chúc theo Bộ luật dân sự 2015

quyen-cua-nguoi-lap-di-chuc

Quyền của người lập di chúc theo Bộ luật dân sự 2015

Theo quy định tại Điều 624 Bộ luật dân sự 2015 quy định về di chúc như sau: Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Bài viết sau đây, Luật Nam Sơn sẽ làm rõ quy định pháp luật về khái niệm và quyền của người lập di chúc

quyen-cua-nguoi-lap-di-chuc

Cơ sở pháp lý

Di chúc thể hiện ý chí định đoạt tài sản của người chết cho những người còn sống khác. Tài sản được định đoạt trong di chúc là tài sản thuộc quyền sở hữu của người lập di chúc đó. Các quyền của người lập chúc được quy định trong các Bộ luật dân sự trước đây cho đến Bộ luật dân sự năm 2015 không có gì thay đổi.

Điều 626 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:

Điều 626. Quyền của người lập di chúc

Người lập di chúc có quyền sau đây:

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Phân tích các quyền

Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế

Lẽ thường, người lập di chúc chỉ định cho cá nhân là người thân thích với mình (trong quan hệ hôn nhân, huyết thống hay nuôi dưỡng) được hưởng di sản thừa kế mà họ để lại. Song trong nhiều trường hợp họ chỉ định người không nằm trong các quan hệ trên được hưởng di sản hoặc có thể lập di chúc cho tổ chức, Nhà nước hưởng di sản của họ. Ngoài ra, quyền định đoạt của người lập di chúc còn được thể hiện thông qua việc truất quyền hưởng di sản của người thừa kế theo pháp luật, như: cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột, ông, bà, cháu…) mà không buộc phải nêu rõ lý do.

Nếu người bị truất quyền thừa kế thì người thừa kế không còn quyền hưởng di sản theo di chúc và theo pháp luật. Nếu người thừa kế không được chỉ định trong di chúc chưa hẳn đã bị truất quyền hưởng di sản.

Phân định phần di sản cho từng người thừa kế

Quyền này cho phép người lập di chúc có thể phân định phần di sản cho từng người thừa kế trong nội dung di chúc.Thực hiện quyền phân định tài sản trong di chúc chính là việc người để lại tài sản thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu của mình cho từng người thừa kế khi nhiều người cùng được thừa kế. Những phần di sản này có thể bằng nhau hoặc không bằng nhau, từng hiện vật khác nhau phụ thuộc vào ý chí định đoạt của người lập chúc với tư cách là chủ sở hữu tài sản, không bị chi phối bởi bất kỳ yếu tố nào như đe dọa, cưỡng ép, lừa dối. Nếu bị ảnh hưởng bởi các yếu tố đó thì di chúc được lập sẽ không có hiệu lực thi hành. Nếu không phân định phần của từng người mà chỉ nêu những người được hưởng, những người đó sẽ được hưởng các kỷ phần thừa kế ngang nhau.

Người lập di chúc có quyền dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.

– Người lập di chúc có quyền dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng. “Di tặng” được tách ra để hiểu theo ngữ nghĩa của nó thì “tặng có nghĩa là cho, trao cho để làm kỷ niệm ”, “di” trong trường hợp này được xem xét là di sản. Với ý nghĩa này thì “di tặng” được hiểu là dùng một phần di sản để tặng cho người khác sau khi người di tặng qua đời. Luật xưa gọi là “Di tặng nhân tử” và được hiểu là một người lấy một phần tài sản của mình để cho người khác thông qua việc lập di chúc. Quy định trên cho phép người lập chúc có quyền định đoạt một phần di sản để di tặng cho người khác hưởng. Thông thường là người có mối quan hệ thân quen, bạn bè, đồng nghiệp, người sống nương nhờ… Họ được hưởng di sản của người chết để lại nhưng không với tư cách là người thừa kế, có quyền xác lập quyền sở hữu đối với phần di sản di tặng kể từ khi nhận di sản.

– Người lập di chúc có quyền dành một phần tài sản trong khối di sản để thờ cúng. Di sản thờ cúng có ý nghĩa cả về mặt vật chất và cả về mặt tinh thần mà tục lệ gọi là “hương hỏa ”. Không một ai bị buộc phải trích một phần di sản dành cho việc thờ cúng, nhưng một khi người lập chúc đã thể hiện ý chí định đoạt phần di sản cho thờ cúng thì phải được pháp luật tôn trọng và bảo đảm thực hiện.

Người lập di chúc có quyền giao nghĩa vụ cho người thừa kế

– Người để lại di sản có để lại một nghĩa vụ về tài sản nhưng trong di chúc không nói rõ người thừa kế nào phải thực hiện nghĩa vụ đó thì theo quy định của pháp luật, người nào hưởng thừa kế thì người đó phải thực hiện. Tuy nhiên, người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại trong phạm vi di sản thừa kế đối với toàn bộ nghĩa vụ mà người chết để lại. Nếu có nhiều người thừa kế theo di chúc thì tất cả những người đó phải thực hiện nghĩa vụ. Khi di sản đã được chia cho từng người thì mỗi người thừa kế phải thực hiện một phần nghĩa vụ tương ứng với phần di sản mà mình

– Trong trường hợp người để lại thừa kế đã xác định rõ tỷ lệ nghĩa vụ mà từng người thừa kế phải thực hiện thì mỗi người phải thực hiện phần đó trong phạm vi di sản mà mình được hưởng. Nếu nghĩa vụ vượt quá số di sản người này được hưởng sẽ chia đều cho những người thừa kế khác thực hiện tương ứng với phần di sản mà họ đã nhận. Trong trường hợp toàn bộ di sản mà người chết để lại không đủ để thực hiện nghĩa vụ thì người có quyền yêu cầu với người để lại di sản trong quan hệ trước đó chấp nhận rủi ro và đồng thời nghĩa vụ chấm dứt.

– Nếu người lập di chúc đã giao nghĩa vụ cụ thể cho người thừa kế nhưng không chỉ định người này hưởng di sản, thì không bắt buộc người được giao nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đó. Tuy nhiên, nếu người được giao thực hiện nghĩa vụ tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thì dùng một phần di sản mà người chết để lại để thanh toán nghĩa vụ đó.

Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản

– Chỉ định người giữ di chúc: Quy định này nhằm đảm bảo ý chí của người lập chúc thể hiện trong nội dung di chúc được thi hành trên thực tế khi họ qua đời. Chỉ định người giữ di chúc để tránh việc thất lạc, hư hỏng di chúc, hủy hoại di chúc, người lập di chúc có thể gửi lại di chúc ở cơ quan Công chứng hoặc gửi cho bất kỳ người nào mà mình tin tưởng. “Người” giữ bản di chúc có nghĩa vụ phải bảo quản giữ gìn bản di chúc theo quy định của pháp luật.

– Chỉ định người quản lý di sản: Quy định này nhằm bảo đảm cho di sản không bị mất mát, hư hỏng, huỷ hoại pháp luật quy định về việc người lập chúc có quyền chỉ định người quản lý di sản. Người được chỉ định việc quản lý di sản có thể là một trong những người thừa kể của người đó nhưng cũng có thể là một người, cơ quan tổ chức bất kỳ nào đó. Người quản lý di sản có quyền hưởng thù lao đối với công việc quản lý di sản và mức thù lao được xác định theo sự thỏa thuận giữa người đó với người thừa kế.

– Chỉ định người phân chia di sản: Người quản lý di sản có thể đồng thời là người phân chia di sản cũng có thể hai người khác nhau tùy thuộc vào người lập di chúc chỉ định hoặc mọi người thừa kế thỏa thuận cử ra. Người phân chia di sản là người đứng ra phân chia di sản khi người để lại di chúc chết.

Người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc

Lập di chúc là giao dịch dân sự (hành vi pháp lý đơn phương) nhằm xác lập giao dịch dân sự về thừa kế. Di chúc chỉ phát sinh hiệu lực khi người lập ra nó qua đời. Vì thế, khi còn sống người lập di chúc, sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc bất cứ lúc nào. Mặc dù, Điều 626 Bộ luật dân sự 2015 không quy định về các quyền này của người lập chúc nhưng việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc được dự liệu tại Điều 640 Bộ luật dân sự chỉ thuộc quyền của người lập di chúc, Theo đó, người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, thay thế di chúc đã lập.

– Sửa đổi di chúc là việc người lập di chúc bằng ý chí của mình làm thay đổi một phần di chúc đã lập, sau khi sửa đổi thì những phần di chúc không bị sửa đổi vẫn có hiệu lực pháp luật, phần di chúc đã bị sửa đổi sẽ không còn hiệu lực.

Bổ sung di chúc là việc người lập di chúc thêm vào một hoặc nhiều nội dung mà di chúc trước đó không có. Người lập di chúc bổ sung di chúc bằng nhiều phương thức như lập một di chúc khác có nội dung bổ sung cho di chúc đã lập đồng thời ghi rõ. Đây là di chúc bổ sung cho di chúc đã lập hoặc ghi thêm nội dung vào di chúc đã lập trước đó.

– Huỷ di chúc là việc người để lại thừa kế lập di chúc mới có nội dung tuyên bố huỷ di chúc đã lập. Việc hủy bỏ di chúc có thể được người lập di chúc thực hiện bằng nhiều cách khác như: đốt, xé, tiêu hủy… hoặc là người này có thể tuyên bố trước mọi người về việc hủy bỏ di chúc mà mình đã lập… Nhà soạn luật Việt Nam không quy định về các phương thức hủy bỏ di chúc là một bất cập trong việc thực hiện và áp dụng pháp luật liên quan đến vấn đề này

– Thay thế di chúc là việc người lập di chúc đã bằng ý chí tự nguyện của mình truất bỏ (phủ nhận) một ý chí tự nguyện trước đó về việc định đoạt di sản thừa kế trong di chúc. Nói cách khác, thay thế di chúc là việc lập di chúc khác thay thế di chúc đã lập

Như vậy Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn hiểu quy định của pháp luật về Quyền của người lập di chúc theo Bộ luật dân sự 2015. Trong trường hợp quý khách có bất kỳ các vấn đề nào gặp khó khăn đừng ngần ngại liên hệ Luật Nam Sơn để được hỗ trợ trực tiếp bởi  Luật sư Hà, Luật sư Trung và các luật sư chuyên môn khác.

Điện thoại: 1900.633.246

Gmail: Luatnamson79@gmail.com

 

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook