Quy định về xác định việc chưa có điều kiện thi hành án năm 2024

Thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính với người chưa thành niên

Quy định về xác định việc chưa có điều kiện thi hành án

Quy định về xác định việc chưa có điều kiện thi hành án
Trong lĩnh vực tổ chức thi hành quyết định tư pháp, có rất nhiều trường hợp, sau khi xác minh điều kiện thi hành, người đứng đầu cơ quan thi hành án dân sự phải cân nhắc xem có thiếu điều kiện thi hành án hay không, do vô số lý do. Điều 44a của Luật thi hành án dân sự năm 2008, sau đó đã được sửa đổi và bổ sung vào năm 2014, giải quyết vấn đề này. Quy định này dựa trên hướng dẫn nêu rõ tại Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ-CP, hiện được sửa đổi theo khoản 6 Điều 1 Nghị định 33/2020/NĐ-CP.

1. Về tiêu chí xác định việc chưa có điều kiện thi hành án

Khoản 1 Điều 44a Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018 (sau đây gọi là Luật Thi hành án dân sự) quy định:

“Điều 44a. Xác định việc chưa có điều kiện thi hành án

Căn cứ kết quả xác minh điều kiện thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người phải thi hành án không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án;

b) Người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được mà đương sự không có thỏa thuận khác;

c) Chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người phải thi hành án, người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng.”

Các chi tiết liên quan đến tên, địa chỉ, nghĩa vụ mà cá nhân không phải chịu điều kiện thi hành được công bố công khai trên trang thông tin điện tử về thi hành án dân sự và nộp cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi xác minh để đưa vào danh mục. Trong trường hợp cá nhân có nghĩa vụ thi hành án có đủ điều kiện cần thiết để thi hành án thì cơ quan thực thi có trách nhiệm tổ chức thi hành án.

Khoản 2 Điều 44a Luật THADS nói trên và Điều 11 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP cũng quy định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc liệt kê các quyết định vô điều kiện.

Theo quy định này, trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định thi hành án vô điều kiện, cơ quan thi hành án dân sự có nghĩa vụ công khai thông tin về tên, địa chỉ, nghĩa vụ thi hành án của cá nhân thực hiện bản án trên trang thông tin điện tử của Cục thi hành án dân sự và tích hợp vào Cổng thông tin điện tử của Tổng cục thi hành án dân sự thuộc phạm vi của Bộ của công lý.

Hơn nữa, cơ quan phải chuyển quyết định có hay không có điều kiện thi hành án cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi tiến hành thẩm tra niêm yết công khai. Thời hạn niêm yết công khai quyết định thi hành án vô điều kiện là 3 tháng, bắt đầu kể từ ngày niêm yết.

Trong trường hợp chưa xác định địa chỉ, tài sản của cá nhân được thi hành, hoặc chưa xác định địa chỉ của người chịu trách nhiệm thi hành án và theo bản án quyết định phải thực hiện nghĩa vụ một cách độc lập thì Trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải cân nhắc xem có thiếu điều kiện thi hành án hay không.

Quyết định có hoặc không có điều kiện thi hành án quy định rõ ràng việc thi hành án bị hoãn thi hành án theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 48 Luật thi hành án dân sự.

Quy định về xác định việc chưa có điều kiện thi hành án

2. Thời hạn ra quyết định chưa có điều kiện thi hành án

Khoản 4 Điều 44a Luật Thi hành án dân sự:

– Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày xác định có căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 44a Luật Thi hành án dân sự, Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án.

– Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải tiến hành xác minh.

– Sau khi có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành án trở lại thì cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án.

Quy định về xác định việc chưa có điều kiện thi hành án

3. Quy định về việc xác minh định kỳ đối với việc chưa có điều kiện thi hành án

Theo khoản 2 Điều 44 Luật Luật Thi hành án dân sự:

“Điều 44. Xác minh điều kiện thi hành án

Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án thì ít nhất 06 tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án; trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì thời hạn xác minh ít nhất 01 năm một lần.

Sau hai lần xác minh mà người phải thi hành án vẫn chưa có điều kiện thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho người được thi hành án về kết quả xác minh. Việc xác minh lại được tiến hành khi có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.”

4. Theo dõi đối với việc chưa có điều kiện thi hành án

Cơ quan thi hành án dân sự chuyển sang sổ theo dõi riêng đối với việc chưa có điều kiện thi hành án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ khi có đủ các điều kiện sau:

a) Đã hết thời hạn 02 năm, kể từ ngày ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án đối với trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án hoặc đã hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án;

b) Đã xác minh ít nhất hai lần theo quy định tại Khoản 2 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự;

c) Không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

Việc thi hành án chưa có điều kiện được thống kê riêng để theo dõi. Khi có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì Chấp hành viên tiến hành xác minh và tổ chức thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều này.

Như vậy Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn Quy định về xác định việc chưa có điều kiện thi hành án

Trong trường hợp quý khách có bất kỳ các vấn đề nào gặp khó khăn đừng ngần ngại liên hệ Luật Nam Sơn để được hỗ trợ trực tiếp bởi các Luật sư HàLuật sư Trung và các Luật sư có kinh nghiệm khác.

Nội dung trên chỉ mang tính chất tham khảo, quý khách hàng có nhu cầu tư vấn chi tiết vui lòng liên hệ:

Điện thoại: 1900.633.246

Gmail: Luatnamson79@gmail.com

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook