Quy định về thủ tục thông báo về việc thi hành án năm 2024

Yêu cầu về tính thống nhất của đơn đăng ký sở hữu công nghiệp

Quy định về thủ tục thông báo về việc thi hành án

Quy định về thủ tục thông báo về việc thi hành án
Để đảm bảo tất cả các bên, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan nhận thức được quyền, nghĩa vụ của mình và có thể thực hiện, giám sát hiệu quả việc thi hành án dân sự, cần thiết lập thời hạn thông báo và nộp quyết định thi hành án. Để giải quyết vấn đề này,

Luật thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung vào năm 2014 (sau đây gọi là Luật thi hành án dân sự), kết hợp các quy định từ Điều 38 đến Điều 43, phù hợp với hướng dẫn quy định tại Điều 12 Nghị định 62/2015/NĐ-CP và Điều 2 Thông tư chung 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC.

1. Gửi quyết định về thi hành án

Việc gửi quyết định về thi hành án phải tuân theo Điều 38 Luật Thi hành án dân sự:

“Điều 38. Gửi quyết định về thi hành án

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định, các quyết định về thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.

Quyết định cưỡng chế thi hành án phải được gửi cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi tổ chức cưỡng chế thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thực hiện quyết định cưỡng chế thi hành án.”

Quy định về thủ tục thông báo về việc thi hành án

2. Thông báo về thi hành án

Điều 39 của Luật thi hành án dân sự nêu rõ các khía cạnh sau đây liên quan đến việc thông báo thi hành án:

– Việc thông báo các tài liệu liên quan phải được hoàn thành trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày cấp các tài liệu nói trên, trừ trường hợp có nhu cầu ngăn cản bên bỏ trốn, làm hỏng tài sản, trốn tránh thi hành án. Các tài liệu yêu cầu thông báo bao gồm quyết định thi hành án, giấy tờ, triệu tập và các tài liệu khác liên quan đến việc thi hành bản án.

Mục đích của thông báo là thông báo cho các cá nhân liên quan, cũng như những người có quyền và nghĩa vụ liên quan, về nội dung của các tài liệu nói trên để họ có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ tương ứng của mình.

– Thông báo có thể được thực hiện thông qua nhiều phương tiện khác nhau, chẳng hạn như thông báo trực tiếp hoặc thông qua sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, niêm yết công khai và thông báo thông qua các phương tiện thông tin đại chúng cũng được công nhận là hình thức thông báo hợp lệ.

– Các chi phí liên quan đến việc thông báo thường do cá nhân có nghĩa vụ thi hành án chịu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, trong đó ngân sách nhà nước chịu trách nhiệm về các chi phí đó hoặc gánh nặng thuộc về cá nhân phải thi hành.

Quy định về thủ tục thông báo về việc thi hành án

2.1. Thủ tục thông báo trực tiếp

Thông báo trực tiếp liên quan đến việc gửi thông báo trực tiếp cho các cá nhân hoặc cho các cơ quan, tổ chức có liên quan. Các quy định liên quan đến vấn đề này được quy định tại Điều 40 và Điều 41 của Luật thi hành án dân sự như sau:

– Khi thông báo cho một cá nhân, văn bản thông báo phải được gửi trực tiếp cho cá nhân được đề cập và yêu cầu chữ ký hoặc xác nhận của họ.

Trong trường hợp cơ quan, tổ chức đang được thông báo, văn bản thông báo phải được chuyển trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật hoặc người được chỉ định chịu trách nhiệm nhận tài liệu thay mặt cho cơ quan, tổ chức đó và phải có chữ ký của cơ quan, tổ chức đó.

Trường hợp cơ quan, tổ chức đã chỉ định người đại diện xử lý các vấn đề liên quan đến việc thi hành án hoặc nhận thông báo thì người đại diện đó phải ký vào văn bản thông báo. Ngày ký sẽ được coi là ngày hợp lệ của thông báo.

Trong trường hợp một cá nhân được thông báo về sự vắng mặt của họ, tài liệu thông báo sẽ được chuyển cho người thân có năng lực cần thiết để hành xử dân sự và cư trú với cá nhân đó.

Người thân này có thể bao gồm vợ/chồng, con, ông nội, bà, cha, mẹ, chú, dì, anh trai, chị gái hoặc chị dâu của cá nhân hoặc vợ/chồng của cá nhân. Thông báo phải ở dạng một tài liệu chính thức. Ngày chính thức của tài liệu là ngày mà nó được giao hợp lệ.

Nếu các điều kiện nêu trên không được đáp ứng và cá nhân được thông báo không có người thân có năng lực cần thiết về hành vi dân sự cư trú với họ hoặc từ chối nhận thông báo bằng văn bản, hoặc nếu cá nhân được thông báo vắng mặt và thời gian trở về của họ không rõ, người đưa ra thông báo được yêu cầu chuẩn bị hồ sơ ghi lại việc không thực hiện thông báo. Hồ sơ này phải được ký bởi một nhân chứng và việc niêm yết công khai phải được thực hiện theo quy định.

Trong trường hợp cá nhân được thông báo đã chuyển đến một địa chỉ mới, thông báo phải được thực hiện đến địa chỉ mới của họ.

2.2. Niêm yết công khai

Nếu không rõ địa chỉ của cá nhân được thông báo hoặc không thể trực tiếp gửi thông báo, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, việc niêm yết công khai phải được thực hiện theo quy định tại Điều 42 Luật thi hành án dân sự:

– Cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp hoặc ủy quyền cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú, nơi cư trú cuối cùng của cá nhân được thông báo hoặc cá nhân, tổ chức đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tiến hành niêm yết công khai.

Thủ tục niêm yết công khai như sau:

– Văn bản thông báo được liệt kê tại cơ sở của cơ quan thi hành án dân sự, cơ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú, nơi cư trú cuối cùng của cá nhân được thông báo.

– Một hồ sơ niêm yết công khai sẽ được tạo ra, ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết, cũng như số, ngày, tháng, năm và tên của tài liệu thông báo. Hồ sơ này phải được ký bởi các nhân chứng.

Thời gian niêm yết công khai cho tài liệu thông báo là 10 ngày kể từ ngày niêm yết. Ngày được liệt kê được coi là ngày thông báo hợp lệ.

2.3. Quy định thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng

Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng chỉ được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc khi đương sự có yêu cầu. Điều 43 Luật Thi hành án dân sự thì:

– Trường hợp xác định đương sự đang có mặt tại địa phương nơi đương sự cư trú thì việc thông báo được thực hiện trên báo ngày trong hai số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đài truyền hình của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của địa phương đó hai lần trong 02 ngày liên tiếp.

Trường hợp xác định đương sự không có mặt tại địa phương nơi đương sự cư trú thì việc thông báo được thực hiện trên báo ngày trong hai số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đài truyền hình của trung ương hai lần trong 02 ngày liên tiếp.

– Ngày thực hiện việc thông báo lần hai trên phương tiện thông tin đại chúng là ngày được thông báo hợp lệ.

Như vậy Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn Quy định về thủ tục thông báo về việc thi hành án

Trong trường hợp quý khách có bất kỳ các vấn đề nào gặp khó khăn đừng ngần ngại liên hệ Luật Nam Sơn để được hỗ trợ trực tiếp bởi các Luật sư HàLuật sư Trung và các Luật sư có kinh nghiệm khác.

Nội dung trên chỉ mang tính chất tham khảo, quý khách hàng có nhu cầu tư vấn chi tiết vui lòng liên hệ:

Điện thoại: 1900.633.246

Gmail: Luatnamson79@gmail.com

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook