Quy định về thẩm quyền, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách Nhà nước năm 2024

Phương thức tuyển dụng công chức

Quy định về thẩm quyền, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách Nhà nước

Quy định về thẩm quyền, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách Nhà nước

Vai trò miễn trừ và giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự đối với các cá nhân được giao thi hành án là vô cùng quan trọng trong quá trình tổ chức thi hành thành phần dân sự trong bản án hình sự.

Nó đóng vai trò như một minh chứng cho chính sách nhân đạo và khoan dung mà Nhà nước áp dụng đối với các cá nhân được yêu cầu thi hành bản án mà không có bất kỳ điều kiện nào. Hơn nữa, nó góp phần giải quyết vấn đề ngày càng tăng về việc tồn đọng các bản án không thể thi hành mà không có điều kiện, đã gia tăng đáng kể trong những năm gần đây.

Về vấn đề này, bắt buộc phải xem xét cách pháp luật thiết lập cơ quan chịu trách nhiệm miễn trừ và giảm nghĩa vụ thi hành bản án liên quan đến doanh thu nộp cho ngân sách nhà nước, cũng như thủ tục thực hiện và khả năng kháng cáo quyết định của Tòa án về vấn đề này.

Quy định về thẩm quyền, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách Nhà nước

1. Thẩm quyền, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước

1.1. Về thẩm quyền

Khoản 1 Điều 63 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 (sau đây gọi là Luật Thi hành án dân sự) quy định:

“Điều 63. Thẩm quyền, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước

Việc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Toà án quân sự khu vực (sau đây gọi chung là Toà án cấp huyện) nơi cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức việc thi hành án có trụ sở.”

1.2. Về thủ tục

Ngoài ra, Điều 63 vạch ra thủ tục miễn, giảm nghĩa vụ thi hành bản án liên quan đến doanh thu nộp cho ngân sách nhà nước.

Thứ nhất, tòa án có trách nhiệm chấp nhận đơn xin miễn và giảm nghĩa vụ thi hành án.

Trong thời hạn hai ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, Tòa án phải xem xét kỹ đơn.

Hồ sơ kèm theo đơn phải bao gồm một số tài liệu thiết yếu, trong đó có yêu cầu chính thức miễn trừ, giảm nghĩa vụ thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự hoặc Thủ trưởng Viện kiểm sát.

Ngoài ra, cần có bản án, quyết định của Toà án có liên quan, quyết định thi hành của cơ quan thi hành án dân sự, biên bản xác minh điều kiện thi hành của cá nhân có nghĩa vụ thi hành án (chuẩn bị chậm nhất ba tháng trước khi yêu cầu miễn) và các tài liệu hỗ trợ khác chứng minh đủ điều kiện được miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.

Hơn nữa, cần có ý kiến bằng văn bản của Viện kiểm sát cùng cấp trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đề nghị miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.

Tiếp theo, thẩm phán được giao xử lý vụ án được yêu cầu triệu tập phiên điều trần để thảo luận về việc miễn trừ và giảm nghĩa vụ thi hành bản án trong thời hạn 20 ngày, bắt đầu từ ngày nhận hồ sơ vụ án.

Trong phiên họp dành riêng để miễn, giảm nghĩa vụ thi hành bản án, Chủ tịch thẩm đoàn có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự đề nghị miễn, giảm.

+ Khi tiến hành xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, đại diện cơ quan thi hành án dân sự trình bày tóm tắt hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm; đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm. Trên cơ sở xem xét hồ sơ và ý kiến của đại diện của Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự, Thẩm phán ra quyết định chấp nhận, chấp nhận một phần hoặc không chấp nhận đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.

 Tòa án gửi quyết định về việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định về việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, Toà án phải gửi quyết định đó cho người được xét miễn, giảm thi hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan thi hành án dân sự đã đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, trại giam, trại tạm giam nơi người được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước đang chấp hành hình phạt tù.

Quy định về thẩm quyền, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách Nhà nước

2. Quy định kháng nghị quyết định của Toà án về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước

Điều 64 quy định: Quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của Tòa án có thể bị Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Cụ thể tại khoản 1,2,3 Điều 64 như sau:

“Điều 64. Kháng nghị quyết định của Toà án về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước

Quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của Tòa án có thể bị Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định.

Hết thời hạn kháng nghị, Viện kiểm sát không kháng nghị thì quyết định của Toà án có hiệu lực thi hành.

Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát, Toà án đã ra quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án phải chuyển hồ sơ và văn bản kháng nghị lên Toà án cấp trên trực tiếp.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ kháng nghị, Toà án cấp trên trực tiếp phải mở phiên họp để xét kháng nghị.

Phiên họp xét kháng nghị do một Thẩm phán chủ trì, có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp. Trong trường hợp cần thiết, Toà án yêu cầu đại diện cơ quan thi hành án dân sự đã lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm tham dự. Thẩm phán chủ trì phiên họp ra quyết định giải quyết kháng nghị.

Quyết định của Tòa án về giải quyết kháng nghị việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án có hiệu lực thi hành.”

Ngoài ra:

– Trường hợp Viện kiểm sát rút quyết định kháng nghị trước hoặc trong phiên họp xét kháng nghị thì Toà án ra quyết định đình chỉ việc xét kháng nghị.

– Trường hợp sau khi quyết định cho miễn, giảm thi hành án có hiệu lực mà phát hiện người phải thi hành án có hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản để xin miễn, giảm, trốn tránh việc thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự, Viện kiểm sát đã đề nghị xét miễn, giảm có trách nhiệm đề nghị Chánh án Toà án, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự và tố tụng dân sự xem xét việc kháng nghị quyết định miễn, giảm thi hành án theo thủ tục tái thẩm.

Như vậy Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn Quy định về thẩm quyền, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách Nhà nước

Trong trường hợp quý khách có bất kỳ các vấn đề nào gặp khó khăn đừng ngần ngại liên hệ Luật Nam Sơn để được hỗ trợ trực tiếp bởi các Luật sư HàLuật sư Trung và các Luật sư có kinh nghiệm khác.

Nội dung trên chỉ mang tính chất tham khảo, quý khách hàng có nhu cầu tư vấn chi tiết vui lòng liên hệ:

Điện thoại: 1900.633.246

Gmail: Luatnamson79@gmail.com

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook