Quy định về đình chỉ giải quyết vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự 2015

dinh-chi-giai-quyet-vu-an-hinh-su

Quy định về đình chỉ giải quyết vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự 2015 

Đình chỉ vụ án hình sự là gì? Đặc điểm và các căn cứ phát sinh như thế nào. Bài viết dưới đây Luật Nam Sơn sẽ làm rõ vấn đề này.

dinh-chi-giai-quyet-vu-an-hinh-su

Khái niệm đình chỉ giải quyết vụ án hình sự là gì?

Đình chỉ giải quyết vụ án hình sự là quyết định chấm dứt mọi hoạt động của các cơ quan tố tụng đối với bị can, bị cáo trong quá trình tố tụng. Vụ án nếu đã có quyết định đình chỉ thì không được phục hồi điều tra, truy tố, xét xử.

Đặc điểm của đình chỉ giải quyết vụ án hình sự

– Việc đình chỉ vụ án hình sự phải dựa trên căn cứ, thẩm quyền và trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.

– Đình chỉ vụ án hình sự là một hình thức kết thúc hoạt động tố tụng trong một giai đoạn tố tụng cụ thể, dẫn đến hậu quả là mọi hoạt động tố tụng đều phải chấm dứt.

– Đình chỉ vụ án hình sự là quyết định tố tụng được áp dụng trong các giai đoạn khác nhau, bao gồm:

+ Đình chỉ vụ án trong gia đoạn truy tố;

+ Đình chỉ vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm;

+ Đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử phúc thẩm;

+ Đình chỉ vụ án trong giai đoạn giám đốc thẩm;

+ Đình chỉ vụ án trong giai đoạn tái thẩm.

Căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án hình sự

Theo quy định tại Điều 248 BLTTHS 2015 quy định về căn cứ phát sinh đình chỉ giải quyết vụ án hình sư như sau:

1. Viện kiểm sát quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự.

2. Quyết định đình chỉ vụ án phải ghi rõ lý do và căn cứ đình chỉ vụ án, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), các vấn đề khác có liên quan và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.

Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả các bị can thì quyết định đình chỉ vụ án đối với từng bị can.”

Theo đó, các căn cứ phát sinh sẽ bao  phát sinh trong giai đoạn truy tố và giai đoạn xét xử, cụ thể:

Giai đoạn truy tố

– Trường hợp chỉ khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nhưng người yêu cầu khởi tố đã rút rút đơn, trừ trường hợp có căn cứ xác định rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức;

– Vụ án đã được khởi tố, điều tra nhưng quá trình điều tra đã xác định được vụ án đó thuộc trường hợp không được khởi tố vì có một trong các căn cứ sau:

+ Không có sự việc phạm tội;

+ Hành vi không cấu thành tội phạm;

+ Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

+ Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

+ Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

+ Tội phạm đã được đại xá;

+ Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;

+ Tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 của Bộ luật Hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.

– Khi có căn cứ cho rằng người phạm tội đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

– Có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự thuộc một trong các trường hợp:

+ Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

+ Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa.

+ Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

– Khi có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi.

Giai đoạn chuẩn bị xét xử

Theo quy định tại Điều 282 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:

– Trường hợp chỉ khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nhưng người yêu cầu khởi tố đã rút rút đơn, trừ trường hợp có căn cứ xác định rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức;

– Vụ án đã được khởi tố, điều tra nhưng quá trình điều tra đã xác định được vụ án đó thuộc trường hợp không được khởi tố:

+ Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

+ Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

+ Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

+ Tội phạm đã được đại xá;

+ Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;

+ Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.

Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ giải quyết vụ án hình sự

– Hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn đối với bị can:

+ Bị can đang bị tạm giam hoặc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác như cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh… thì sẽ được trả tự do, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn.

– Hủy bỏ các biện pháp cưỡng chế, xử lý vật chứng, tài liệu đồ vật đã tạm giữ (nếu có).

– Các vấn đề khác có liên quan và các nội dung quy định tại các văn bản tố tụng trước đó cũng bị hủy bỏ.

Như vậy Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn hiểu quy định của pháp luật về Quy định về đình chỉ giải quyết vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Trong trường hợp quý khách có bất kỳ các vấn đề nào gặp khó khăn đừng ngần ngại liên hệ Luật Nam Sơn để được hỗ trợ trực tiếp bởi  Luật sư Hà, Luật sư Trung và các luật sư chuyên môn khác.

Điện thoại: 1900.633.246

Gmail: Luatnamson79@gmail.com

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook