Quy định pháp luật về phòng ngừa tội phạm

phong-ngua-toi-pham

Quy định pháp luật về phòng ngừa tội phạm

Tội phạm ngày càng trở nên phức tạp và tinh vi. Chính vì thế, Đảng và nhà nước cũng như toàn thể nhân dân cần có biện pháp phòng ngừa tội phạm

phong-ngua-toi-pham

Khái niệm phòng ngừa tội phạm là gì?

Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội của toàn thể cộng đồng và công dân nhằm nhanh chóng và sớm phát hiện, ngăn chặn, khắc phục nguyên nhân và điều kiện của tình 4 làm giảm tội phạm.

Phòng ngừa tội phạm là tư tưởng chỉ đạo của cơ quan, tổ chức nhà nước có thẩm quyển theo quy định của pháp luật cũng như cách thức, biện pháp của công dân được thực hiện nhằm hạn chế và phòng ngừa tội phạm xảy ra, nếu tội phạm xảy ra thì phải hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả và tác hại của nó. Phòng ngừa tội phạm mang tính hệ thống, chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất và có sự phối hợp nhịp nhàng, quan hệ hữu cơ giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức và công dân.

Biện pháp phòng ngừa tội phạm là gì ?

Biện pháp phòng ngừa tội phạm là Hệ thống các biện pháp, cách thức do các cơ quan chức năng có thẩm quyền, các tổ chức xã hội và công dân thực hiện nhằm hạn chế, ngăn chặn, loại trừ nguyên nhân điều kiện phạm tội.

Chủ thể của việc phòng ngừa tội phạm

Chủ thể chính của hoạt động phòng ngửa tội phạm bao gồm: các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội và công dân. Ở Việt Nam, phòng ngừa tội phạm mang tính kế hoạch, có sự chỉ đạo chặt chẽ của các cơ quan nhà nước cũng như của tổ chức cộng đồng dân cư dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng.

Mục đích của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, phòng ngừa tội phạm

Một là, loại trừ và thủ tiêu các nguyên nhân và điều kiện phạm tội, xóa bỏ các tác nhân là điều kiện tạo thuận lợi việc phát sinh ra tội phạm.

Hai là, nghiên cứu môi trường sống (gia đình – nhà trường – xã hội) xung quanh các nguyên nhân và điều kiện phạm tội và người phạm tội, qua đó hạn chế, ngăn ngừa những hiện tượng có ảnh hưởng bất lợi và không đúng đến việc hình thành các phẩm chất cá nhân tiêu cực chống đối xã hội của bản thân người phạm tội.

Ba là, trên cơ sở này, đưa ra các giải pháp tổng thể và có hệ thống phòng ngừa các hiện tượng tiêu cực và tội phạm, các tác nhân ảnh hưởng và những thiếu sót trong cơ chế quản lý về các mặt (như: kinh tế, xã hội, công tác tổ chức cán bộ…), cũng như kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và các ngành luật khác.

Phân loại các biện pháp phòng ngừa tội phạm

Các biện pháp phòng ngừa tội phạm cỏ thể được phân loại theo các tiêu chí khác nhau. Trong đó có tiêu chí theo tính chất tác động của biện pháp phòng ngừa tội phạm, tiêu chí theo nội dung tác động của biện pháp phòng ngừa tội phạm và tiêu chí theo phạm vi tác động của biện pháp phòng ngừa tội phạm:

– Xét về tính chất tác động của biện pháp phòng ngừa tội phạm có thể phân loại các biện pháp phòng ngừa tội phạm thành 2 nhóm sau:

+ Các biện pháp phòng ngừa tội phạm cơ bản – gián tiếp và

+ Các biện pháp phòng ngừa tội phạm thứ cấp – trực tiếp)

Các biện pháp phòng ngừa tội phạm cơ bản – gián tiếp là các biện pháp tuy hướng tới các nguyên nhân “gốc rễ” của tội phạm nói chung nhưng đó không phải là mục đích trực tiếp. Đây là các biện pháp nhằm tới mục đích trực tiếp là các vấn đề kinh tế-xã hội nhưng gián tiếp lại là các biện pháp bao trùm, có ý nghĩa đối với tất cả các tội phạm, đối với tất cả mọi người và có tính triệt để, giải quyết tận gốc vấn đề nguyên nhân của tội phạm. Các biện pháp này là các biện pháp có tính lâu dài, có tác dụng dần dần từng bước. Thuộc về các biện pháp này phải kể đến trước hết là các biện pháp phát triển kinh tế, ổn định xã hội, khắc phục những hạn chế, cải thiện tình hình kinh tế-xã hội như vấn đề thất nghiệp hay thất học, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lóp dân cư; các biện pháp lành mạnh hoá các môi trường giáo dục, nâng cao trình độ vãn hoá, ý thức tôn trọng pháp luật và trách nhiệm của công dân; các biện pháp nâng cao “tính giáo dục” của pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự …

Các biện pháp phòng ngừa tội phạm cơ bản – gián tiếp tuy không tác động trực tiếp, tức thời đến nguyên nhân của tội phạm nhưng được coi là các biện pháp có tính chủ động, tích cực theo đúng nghĩa nhất và cũng là các biện pháp giải quyết vấn đề nguyên nhân của tội phạm một cách bền vững.

Các biện pháp phòng ngừa tội phạm thứ cấp – trực tiếp là các biện pháp hướng tới các “nguy cơ phạm tội” cụ thể, tác động đến các thành tố tạo thành nguyên nhân của tội phạm với nội dung cụ thế và trực tiếp là hạn chế, triệt tiêu hoặc “trung hoà” các thành tố này. Thuộc về các biện pháp phòng ngừa này trước hết là các biện pháp tăng hiệu quả của quản lý hành chính nhà nước trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như lĩnh vực kinh tế- xã hội, lĩnh vực an ninh, quôc phòng, lĩnh vực văn hoá, trật tự, an toàn xã hội … Ngoài ra, các biện pháp phòng ngừa này còn có thể là các biện pháp tăng cường giám sát, quản lý các đối tượng có nguy cơ phạm tội hay phạm tội lại; là các biện pháp cảnh báo, hướng dẫn tránh trở thành nạn nhân của tội phạm như tội phạm về tình dục hay tội mua bán người …

Căn cử vào mục đích cụ thể, đối tượng hướng tới và phạm vi ảnh hưởng có thể chia các biện pháp phòng ngừa tội phạm thứ cấp – trực tiếp thành: Nhóm biện pháp phòng ngừa tội phạm đối với người phạm tội đã bị phát hiện; nhóm biện pháp phòng ngừa tội phạm đối với nhóm người có nguy cơ phạm tội; nhóm biện pháp phòng ngừa có tính cảnh báo đối với nhóm chủ thể (cá nhân hoặc đơn vị) có nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm và nhỏm biện pháp phòng ngừa cụ thể do chính những chủ thể này thực hiện tự giác hoặc tự phát.

Thuộc về nhóm biện pháp phòng ngừa tội phạm đối với người phạm tội bao gồm không chỉ các biện pháp trách nhiệm hình sự được áp dụng cho người bị kết án mà theo nghĩa rộng còn bao gồm cả các biện pháp nhằm phát hiện, xử lý kịp thời tội phạm (Theo hướng phòng ngừa tội phạm này thì giữa biện pháp chống tội phạm và biện pháp phòng ngừa tội phạm có sự đồng nhất nhưng chưa thật đây đủ và cũng chưa được chú trọng đúng mực trong việc theo dõi, giám sát việc chấp hành các hình phạt này.). Các biện pháp này không chỉ nhằm ngăn chặn kịp thời không cho người phạm tội tiếp tục phạm tội mà còn nhằm răn đe, giáo dục họ cũng như nhằm hạn chế khả năng, điều kiện mà người phạm tội có thể sử dụng để phạm tội lại. Để đáp ứng được điều này đòi hỏi các biện pháp hình sự .cần được mở rộng, không được phép chỉ bó hẹp là hệ thống các hình phạt truyền thống với mục đích thiên về trừng trị. Trừng trị cũng như qua trừng trị để răn đe, giáo dục là cần thiết và là một hướng phòng ngừa tội phạm nhưng bên cạnh đó cũng cần có những biện pháp hình sự khác, có thể là hình phạt hoặc chỉ là biện pháp hỗ trợ mà những biện pháp này có tác dụng trực tiếp là góp phần phòng ngừa việc phạm tội lại của người bị kết án như quản chế; cấm cư trú; cấm hành nghề; cấm điều khiển phương tiện giao thông cơ giới … Trong Bộ luật hình sự Việt Nam đã có một số hình phạt có mục đích trực tiếp là phòng ngừa.

Các biện pháp hình sự được áp dụng đổi với người phạm tội không chỉ có tác dụng đối với chính họ mà cũng còn có tác dụng răn đe đối với nhóm người có nguy cơ phạm tội. Tác dụng răn đe này chỉ có thể có khi các thông tin về việc áp dụng các biện pháp hình sự đến được nhóm người này qua các kênh khác nhau, bằng các biện pháp tuyên truyền khác nhau. Tuy nhiên, tác động răn đe này là chưa đủ. Để phòng ngừa có hiệu quả đối với nhóm người có nguy cơ phạm tội này đòi hỏi phải có những biện pháp để có thể kiểm soát và can thiệp kịp thời, ngăn chặn “nguy cơ phạm tội” trở thành hiện thực.

Đối với mọi người nói chung, đặc biệt là đối với những người có nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm nói riêng thi biện pháp phòng ngừa tội phạm chủ yếu là có tính cảnh báo nhằm giáo dục ý thức cảnh giác với tội phạm, tham gia phát hiện tội phạm và nhất là tự mình có các biện pháp phòng ngừa thích hợp. Tuyên truyền về vấn đề này và việc triển khai các biện pháp phòng ngừa theo tuyên truyền này là nội dung của nhóm biện pháp phòng ngừa tội phạm thứ ba thuộc các biện pháp phòng ngừa tội phạm thứ cấp – trực tiếp.

Các biện pháp phòng ngừa tội phạm thứ cấp – trực tiếp tuy có hiệu quả phòng ngừa tội phạm nhưng chi trong phạm vi giới hạn. không có tính triệt để mà có tính “tình thế”. Do vậy, các biện pháp này có thể bị coi là các biện pháp bị động để phân biệt với tính chủ động của các biện pháp phòng ngừa tội phạm cơ bản – gián tiếp.

Cách phân loại các biện pháp phòng ngừa tội phạm trên đây là cách phân loại chính và chủ yếu.

– Xét về nội dung tác động của các biện pháp phòng ngừa tội phạm có thể phân loại các biện pháp phòng ngừa tội phạm thành:

+ Các biện pháp phòng ngừa tội phạm thuộc về kinh tế-xã hội;

+ Các biện pháp phòng ngừa tội phạm thuộc về văn hoá, giáo dục;

+ Các biện pháp phòng ngừa tội phạm thuộc về tổ chức và quản lý và

+ Các biện pháp phòng ngừa tội phạm thuộc về pháp luật.

Các biện pháp phòng ngừa tội phạm thuộc về kinh tế-xã hội là các biện pháp nhằm phát triển kinh tế, đồng thời khắc phục các vấn đề xã hội mà các vấn đề này có thể góp phần hình thành nguyên nhân của tội phạm. Qua đó tạo tiền đề cho việc nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của các tầng lớp nhân dân, xoá dần sự khác nhau về mức sống và mặt bằng dân trí giữa các tầng lớp dân cư cũng như giữa các vùng, miền. Phát triển kinh tế phải đồng thời hạn chế các biểu hiện mặt trái của chính sự phát triển này. Ví dụ: Phát triển các khu công nghiệp hay đô thị phải đi đôi với việc lường trước và khắc phục tình trạng thất nghiệp do “mất” đất sản xuất nông nghiệp cũng như lường trước và khắc phục tình trạng quản lý hành chính nhà nước không đáp ứng kịp sự phát triển …

Các biện pháp phòng ngừa tội phạm thuộc về văn hoá, giáo dục là các biện pháp nhằm cải thiện, nâng cao đời sống văn hoá; mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo; phát huy tính tích cực của công tác tuyên truyền. Qua đó tạo ra môi trường xã hội lành mạnh, có tính văn hoá, giáo dục cao góp phần tích cực trong việc hạn chế sự hình thành các “phẩm chất tâm lý tiêu cực”, nâng cao ý thức trách nhiệm cũng như sự hiểu biết đặc biệt là ý thức tuân thủ pháp luật và tinh thần cảnh giác phòng ngừa tội phạm của mọi người …

Các biện pháp phòng ngừa tội phạm thuộc về tổ chức, quản lý là các biện pháp nhằm tăng hiệu quả của công tác quản lý, khắc phục “kẽ hở” là “tình huống tiêu cực” của môi trường – một thành tố tạo nên nguyên nhân của tội phạm … Đó là các biện pháp về quản lý hành chính nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và các biện pháp quản lý hành chính trong nội bộ các cơ quan, đơn vị, tổ chức. Trong đó có các biện pháp về mặt tổ chức nhằm hoàn thiện công tác quản lý hành chính nhà nước cũng như công tác quản lý hành chính.

Các biện pháp phòng ngừa tội phạm thuộc về pháp luật là các biện pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo điều kiện cho pháp luật góp phần tích cực vào công tác quản lý xã hội, phát hiện và xử lý vi phạm cũng như tội phạm. Theo đó thì các biện pháp phòng ngừa tội phạm thuộc về pháp luật còn bao gồm cà các biện pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh chống vi phạm và tội phạm …

Sự phân loại trên chỉ có tính chất tương đối vì trên thực té, các loại biện pháp phòng ngừa tội phạm luôn đan xen với nhau.

– Xét về phạm vi tác động của các biện pháp phòng ngừa tội phạm có thể phân loại các biện pháp phòng ngừa tội phạm thành:

+ Các biện pháp phòng ngừa tội phạm nói chung;

+ Các biện pháp phòng ngừa từng nhóm tội phạm cụ thể như nhỏm các tội phạm về tham những, nhóm các tội phạm về cờ bạc, …;

Các biện pháp phòng ngừa tội phạm do từng nhóm chủ thể thực hiện như nhóm chủ thể là người chưa thành niên, nhóm chủ thể là phụ nữ, … và

+ Các biện pháp phòng ngừa loại tội cụ thể như tội mua bán người, tội cướp tài sản …

Như vậy Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn hiểu quy định của pháp luật về phòng ngừa tội phạm. Trong trường hợp quý khách có bất kỳ các vấn đề nào gặp khó khăn đừng ngần ngại liên hệ Luật Nam Sơn để được hỗ trợ trực tiếp bởi  Luật sư Hà, Luật sư Trung và các luật sư chuyên môn khác.

Điện thoại: 1900.633.246

Gmail: Luatnamson79@gmail.com

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook