Quan hệ lao động cá nhân giữa người sử dụng lao động và người lao động

quan-he-phap-luat-giua-nguoi-lao-dong-va-nguoi-su-dung-lao-dong

Quan hệ lao động cá nhân giữa người sử dụng lao động và người lao động

quan-he-phap-luat-giua-nguoi-lao-dong-va-nguoi-su-dung-lao-dong

Khái niệm người lao động và người sử dụng lao động:

  • Người lao động: theo khoản 1 Điều 3 Luật lao động 2019 nói về khái niệm người lao động như sau: “Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động.”
  • Người sử dụng lao động :căn cứ khoản 2 Điều 3 Luật Lao động năm 2019 quy định về khái niệm người sử dụng lao động như sau: “Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận; trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.”

Quan hệ pháp luật giữa người lao động và người sử dụng lao động:

Quan hệ lao động (QHLĐ) là quan hệ giữa người lao động (NLĐ), tập thể NLĐ với người sử dụng lao động (NSDLĐ) và tổ chức đại diện NSDLĐ, được xác lập trên cơ sở pháp luật lao động bao gồm các tiêu chuẩn về lao động, cơ chế xác lập và vận hành QHLĐ, thiết chế giải quyết tranh chấp lao động, vai trò của các bên trong QHLĐ.

Theo Bộ luật Lao động, QHLĐ là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa NLĐ và NSDLĐ.

Quan hệ lao động do nhiều chủ thể tương tác với nhau, gồm: NLĐ và tổ chức đại diện của NLĐ, NSDLĐ và tổ chức đại diện của NSDLĐ, cơ quan nhà nước. Các chủ thể QHLĐ tương tác thông qua cơ chế tham vấn, đối thoại, thương lượng tạo thành cơ chế vận hành của QHLĐ. Trong đó có cơ chế hai bên (NLĐ, đại diện của NLĐ với NSDLĐ; đại diện của NLĐ với đại diện NSDLĐ) và cơ chế ba bên (Nhà nước – đại diện NSDLĐ – đại diện của NLĐ).

Chủ thể của QHPLLĐ: cá nhân NLĐ với NSDLĐ bị chi phối bởi quy định pháp luật. Cơ sở phát sinh quan hệ lao động giữa NLĐ và NSDLĐ là thông qua hợp đồng lao động.
Phạm vi: khắp mọi nơi, nhiều nhất là ở các doanh nghiệp, LLĐ điều chỉnh mang tính chất toàn diện.
Tính chất của QHPL giữa NLĐ và NSDLĐ là do thoả thuận mà có, tôn trọng sự sở hữu của các bên, quan hệ pháp luật lao động này mang tính chất đơn lẻ (chỉ liên quan đến một người).

Đặc điểm của quan hệ lao động:

  • Trong mối quan hệ pháp luật giữa NLĐ và NSDLĐ, NLĐ phải tự mình thực hiện công việc.
  • NSDLĐ có quyền quản lý đối với NLĐ.
    Về cơ sở, đặc điểm này xuất phát từ 4 ý chính sau:
    – NSDLĐ là chủ sở hữu của tư liệu sản xuất, họ phải thực hiện quyền sở hữu chủ đối với tài sản.
    – Tính tất yếu khách quan của quá trình lao động: phải có chủ, có tổ chức điều hành thì mới có một tập thể lao động
    – NSDLĐ là người bỏ tiền mua “sức lao động”, nên NSDLĐ có quyền định đoạt hàng hoá này.
    – Do pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của NSDLĐ, NSDLĐ có quyền quản lý đối với NLĐ.
  • Trong quá trình xác lập, duy trì, chấm dứt QHPLLĐ giữa NLĐ và NSDLĐ có sự tham gia của đại diện lao động.

Như vậy Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn hiểu quy định của pháp luật về Quan hệ lao động cá nhân giữa người sử dụng lao động và người lao động. Trong trường hợp quý khách có bất kỳ các vấn đề nào gặp khó khăn đừng ngần ngại liên hệ Luật Nam Sơn để được hỗ trợ trực tiếp bởi  Luật sư Hà, Luật sư Trung và các luật sư chuyên môn khác.

Điện thoại: 1900.633.246

Gmail: Luatnamson79@gmail.com

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook