Những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự 2015

nguyen-tac-co-ban-bltths

Những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự 2015

nguyen-tac-co-ban-bltths

Mục lục bài viết

Khái niệm về nguyên tắc cơ bản của Bộ luật tố tụng hình sự

Các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự là những định hướng chi phối tất cả hoặc một số hoạt động tố tụng hình sự, được các văn bản pháp luật ghi nhận.

Những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự là kim chỉ nam cho mọi hoạt động ừong tố tụng hình sự. Các nguyên tắc này không chỉ định hướng cho hoạt động tố tụng hình sự mà còn định hướng cho việc xây dựng pháp luật trong thực tiễn. Một số nguyên tắc cụ thể hoá quy định của Hiến pháp. Các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự được quy định trong BLTTHS 2015. Ngoài ra, một số nguyên tắc còn được ghi nhận trong các vãn bản pháp luật khác liên quan như Luật tổ chức toà án nhân dân, Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân…

Những nguyên tắc đặc thù

Nguyên tắc suy đoán vộ tội (Điều 13 BLTTHS năm 2015, khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013)

Toà án là cơ quan xét xử, quyết định của toà án đặc trưng ở tính dứt điểm của nổ, bản án của toà án xác định một người có tội hay không có tội. vấn đề này được thể hiện rõ nét hơn ở khoản 4 Điều 326 BLTTHS 2015: Nếu có căn cứ xác định bị cáo không có tội thì hội đồng xét xử tuyên bổ bị cáo không có tộỉ”.

Điều 13 BLTTHS năm 2015 quy định nguyên tắc này với nội dung sau: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khỉ được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật. Khỉ không đủ và không thể làm sảng tỏ cần cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội

Như vậy, khi chưa được chứng minh theo trình tự, thủ tục do luật quy định, chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật thì người bị buộc tội phải được coi là người không có tội. Do không được coi là người có tội nên các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không được đối xử với người bị buộc tội như người có tội, kể cả trường hợp họ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất như tạm giam. Vì vậy, BLTTHS 2015 quy định chế độ tạm giữ, tạm giam khác với chế độ chấp hành án phạt tù.

Điều 13 BLTTHS năm 2015 quy định nguyên tắc này với nội dung được thể hiện cụ thể như sau:

Thứ nhẩt, người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi tội của họ được chứng minh theo trình tự, thủ tục do BLTTHS 2015 quy định và có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật.

Thứ hai, khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục luật định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.

 Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự (Điều 16 BLTTHS 2015; khoản 4 Điều 31, khoản 7 Điều 103 Hiến pháp năm 2013).

+ Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa

+ Luật tố tụng hình sự không chỉ quy định người bị buộc tội có quyền bào chữa mà còn quy định những bảo đảm cần thiết để quyền bào chữa được thực hiện. Cụ thể như họ phải được giao nhận quyết định khởi tố, bản kết luận điều tra sau khi kết thúc điều tra, quyết định truy tố, quyết định đưa vụ án ra xét xử… để chuẩn bị bào chữa. Trong quá trình bào chữa họ có thể sử dụng mọi biện pháp họp pháp để chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ tội.

+ Không chỉ quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, Điều 16 BLTTHS năm 2015 còn quy định việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự. Điều này thể hiện nhà nước không chỉ coi trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội mà còn tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích họp pháp của bị hại, đương sự. Bị hại, đương sự có quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và cũng có quyền nhờ luật sư hoặc người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

+ Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội thực hiện đầy đủ quyền bào chữa; bảo đảm cho bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định pháp luật.

Nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm (Điều 14 BLTTHS năm 2015; Điều 31 Hiến pháp năm 2013)

Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm là một trong những nguyên tắc mới được quy định trong BLTTHS năm 2015 với nội dung: Không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người mà hành vi của họ đã có bản án của tòa án đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp họ thực hiện hành vi nguy hiểm khác cho xã hội mà BLHS 2015 quy định là tội phạm.

Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 15 BLTTHS năm 2015)

+ Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thầm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội, xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ hách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.

+ Mọi tình tiết thu được trong quá trình giải quyết vụ án đều được đánh giá trên cơ sở pháp lí để rút ra kết luận về vụ án. Nguyên tấc này muốn được thực hiện tốt thì đòi hỏi những người tiến hành tố tụng phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để làm chủ nghề nghiệp, tức là phải được đào tạo về nghiệp vụ, nắm được những quy định của pháp luật, có tư duy pháp lí, có thói quen và phương pháp giải quyết các vấn đề pháp lí

+ Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan CÓ thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Luật tố tụng hình sự quy định người bị buộc không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội.

Nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Điều 17 BLTTHS năm 2015)

+ Trong quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về những hành vi, quyết định của mình.

+ Người vi phạm pháp luật trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lí kỉ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

 Nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lí vụ án hình sự (Điều 18BLTTHS 2015)

Nguyên tắc này xác định rõ trách nhiệm khởi tố và xử lí vụ án hình sự là cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án. Đối với các cơ quan khác, tổ chức không có quyền khởi tố vụ án hình sự nhưng trong phạm vi trách nhiệm của mình phải phối hợp với cơ quan tiến hành tố tụng trong đấu tranh phòng chống tội phạm như phải báo tin ngay về tội phạm xảy ra trong cơ quan, tổ chức mình cho cơ quan điều tra, viện kiểm sát biết

Nguyên tắc trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự (Điều 20 BLTTHS năm 2015, khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013, Điều 1 Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2014).

Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật là hai chức năng đặc trưng của viện kiểm sát. Theo đó, viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự (Điều 30 BLTTHS năm 2015)

Theo nguyên tắc này, việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự, Khi giải quyết vấn đề này, về nội dung, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng quy định của pháp luật dân sự; về thủ tục tố tụng, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Trường hợp có những vấn đề không được pháp luật tố tụng hình sự quy định thì áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết những vấn đề bồi thường, bồi hoàn chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

Nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự (Điều 31 BLTTHS năm 2015, khoản 5 Điều 31 Hiến pháp năm 2013)

Quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cùa người bị oan đã được quy định trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966: Khi một người qua một quyết định chung thẩm bị kết án về một tội hình sự và sau đó bản án bị huỷ bỏ hoặc nếu người đó lại được tuyên là vô tội… thì người chịu hình phạt… theo luật có quyền yêu cầu được bồi thường…(1) Trách nhiệm chứng minh tội phạm là nghĩa vụ của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các chủ thể này phải xác định sự thật của vụ án khách quan, toàn diện và đầy đủ. Trong quá trình tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về những hành vi, quyết định của mình. Trong thực tiễn tố tụng, không loại trừ những trường hợp làm oan, sai ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng.

Những nguyên tắc khác

 Nguyên tắc bảo đảm pháp ‘chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự (Điều 7 BLTTHS năm 2015:

Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc bao trùm nhất được thể hiện trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự, từ những quy định chung cho đến những quy định cụ thể. Đây là nguyên tắc pháp lí cơ bản nhất trong hoạt động của cơ quan, tổ chức và công dân được quy định ở Điều 8 Hiến pháp năm 2013 “Nhà nước được tồ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lí xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ

 Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân (Điều 8 BLTTHS năm 2015)

Nguyên tắc này có tính khái quát cao, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân được quy định trong Hiến pháp được thể hiện ở nhiều nguyên tắc khác của tố tụng hình sự: Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 9 BLTTHS2015); bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 10 BLTTHS 2015); bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân (Điều 11 BLTTHS 2015); bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân (Điều 12 BLTTHS 2015)…

Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 9 BLTTHS năm 2015, Điều 16 Hiến pháp năm 2013)

Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật xác định vị trí của mọi người như nhau trong lĩnh vực hoạt động nhà nước và xã hội cũng như tham gia các hoạt động tố tụng hình sự, không có phân biệt.

Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam nữ, dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lí theo pháp luật. Mọi pháp nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế.

Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 10 BLTTHS năm 2015, Điều 20 Hiến pháp năm 2013)

+ Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của viện kiểm sát, trừ trường họp phạm tội quả tang;

+ Việc giữ người trong trường họp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam người phải theo quy định của BLTTHS;

+ Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kì hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người.

Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân (Điều 11 BLTTHS năm 2015, Điều 19 Hiến pháp năm 2013)

+ Mọi người có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản.

+ Mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân đều bị xử lí theo pháp luật.

+ Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.

Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân (Điều 12 BLTTHS năm 2015; Điều 21, Điều 22 Hiến pháp năm 2013)

+ Không ai được xâm phạm trái pháp luật chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và cảc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân.

+ Việc khám xét chỗ ở; khám xét, tạm giữ và thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này.

– Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người có thẩm quyền tiến hành, người tham gia tố tụng (Điều 21 BLTTHS năm 2015)

Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là chủ thể tiến hành hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự. Đổ sự thật của vụ án được xác định khách quan, chính xác đòi hỏi những người này phải thật sự vô tư trong khi làm nhiệm vụ. Đối với người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản, người chứng kiến là người không có quyền và lợi ích pháp lí liên quan đến vụ án, họ tham gia tố tụng nhằm góp phần xác định sự thật của vụ án, pháp luật cũng đòi hỏi sự vô tư của họ khi tham gia vào tố tụng hình sự.

Như vậy Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn hiểu quy định của pháp luật về các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự 2015. Trong trường hợp quý khách có bất kỳ các vấn đề nào gặp khó khăn đừng ngần ngại liên hệ Luật Nam Sơn để được hỗ trợ trực tiếp bởi  Luật sư Hà, Luật sư Trung và các luật sư chuyên môn khác.

Điện thoại: 1900.633.246

Gmail: Luatnamson79@gmail.com

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook