Hội thẩm là những người không phải như Thẩm phán chuyên nghiệp, họ đại diện cho các tầng lớp nhân dân tham gia xét xử để bảo vệ quyền lợi cho các thành viên trong tổ chức của mình và thay mặt nhân dân giám sát việc xét xử của Toà án. Hội thẩm là người được bầu hoặc Hội thẩm nhân dân được cử theo quy định của pháp luật. Trong những trường hợp những vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên thì Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử phải là giáo viên hoặc là cán bộ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh (Điều 277 Bộ luật tố tụng hình sự). Hội thẩm tham gia xét xử theo sự phân công của Chánh án Toà án cùng cấp.

Nhiệm vụ quyền hạn của Hôil thẩm được quy định cụ thể tại điều 46 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như sau

“1 Hội thẩm được phân công xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn:

a) Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa;

b) Tiến hành xét xử vụ án;

c) Tiến hành hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử.

2. Hội thẩm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình.”

Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 cũng quy định tại các điều 84 và 89 như sau

Điều 84

“1. Hội thẩm Tòa án nhân dân gồm có:

a) Hội thẩm nhân dân;

b) Hội thẩm quân nhân.

2. Hội thẩm nhân dân thực hiện nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo phân công của Chánh án Tòa án nơi được bầu làm Hội thẩm nhân dân.

3. Hội thẩm quân nhân thực hiện nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự theo phân công của Chánh án Tòa án nơi mình được cử làm Hội thẩm quân nhân.

4. Hội thẩm có nghĩa vụ thực hiện sự phân công của Chánh án Tòa án, trường hợp không thực hiện được thì phải nêu rõ lý do.

5. Trong 01 năm công tác mà Hội thẩm không được Chánh án Tòa án phân công làm nhiệm vụ xét xử thì có quyền yêu cầu Chánh án Tòa án cho biết lý do.”

Điều 89 quy định về trách nhiệm của Hội thẩm nhân dân

“1. Trung thành với Tổ quốc, gương mẫu chấp hành Hiến pháp và pháp luật.

2. Tham gia xét xử theo sự phân công của Chánh án Tòa án mà không được từ chối, trừ trường hợp có lý do chính đáng hoặc do luật tố tụng quy định.

3. Độc lập, vô tư, khách quan trong xét xử, góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân.

4. Tôn trọng nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.

5. Giữ bí mật nhà nước và bí mật công tác theo quy định của pháp luật.

6. Tích cực học tập để nâng cao kiến thức pháp luật và nghiệp vụ xét xử.

7. Chấp hành nội quy, quy chế của Tòa án.

8. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật bãi nhiệm hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.

Hội thẩm trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà gây thiệt hại thì Tòa án nơi Hội thẩm đó thực hiện nhiệm vụ xét xử phải có trách nhiệm bồi thường và Hội thẩm đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho Tòa án theo quy định của pháp luật.”

Thư ký Tòa án:

Thư ký phiên toà được Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định là người tiến hành tố tụng, nhưng cho đến nay chưa có văn bản dưới luật nào quy định tiêu chuẩn, thẩm quyền cũng như chức năng nhiệm vụ của Thư ký phiên toà. Tuy nhiên, căn cứ vào tổ chức hoạt động của Toà án nhân dân và của Toà án quân sự, đồng thời qua thực tiễn xét xử thì Thư ký phiên toà trước hết phải là người trong biên chế của Toà án nhân dân các cấp hoặc Toà án quân sự các cấp (gọi chung là cán bộ toà án); có trình độ pháp lý nhất định; có khả năng ghi chép đầy đủ, rõ ràng những câu hỏi và câu trả lời trong khi tiến hành phiên toà; có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao bao gồm cả yếu tố ngoại hình như không có dị tật, dị hình (cụt chân, cụt tay, chột mắt, méo miệng) và những dị tật, dị hình, khác ảnh hưởng trực tiếp đến tư thế của người tiến hành tố tụng. Hiện nay việc tuyển chọn Thư ký phiên toà được thực hiện như tuyển chọn viên chức Nhà nước, có thi tuyển và có quy định về một số tiêu chuẩn, như phải có trình độ pháp, lý nhất định, có sức khoẻ v.v… Nhiệm vụ, quyền hạn của thư ký được quy định tại Điều 47 BLTTHS 2015:

1. Thư ký Tòa án được phân công tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn:

a) Kiểm tra sự có mặt của những người được Tòa án triệu tập; nếu có người vắng mặt thì phải nêu lý do;

b) Phổ biến nội quy phiên tòa;

c) Báo cáo Hội đồng xét xử danh sách những người được triệu tập đến phiên tòa và những người vắng mặt;

d) Ghi biên bản phiên tòa;

đ) Tiến hành hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự phân công của Chánh án Tòa án.

2. Thư ký Tòa án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Chánh án Tòa án về hành vi của mình.

Như vậy Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn hiểu quy định của pháp luật về người tiến hành tố tụng theo quy định của BLTTHS 2015. Trong trường hợp quý khách có bất kỳ các vấn đề nào gặp khó khăn đừng ngần ngại liên hệ Luật Nam Sơn để được hỗ trợ trực tiếp bởi các Luật sư Hà, Luật sư Trung và các luật sư chuyên môn khác.

Điện thoại: 1900.633.246

Gmail: Luatnamson79@gmail.com