Khả năng phân biệt của nhãn hiệu theo quy định pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005: 01 số vấn đề pháp lý.

Khả năng phân biệt của nhãn hiệu

Khái niệm khả năng phân biệt của nhãn hiệu

Khả năng phân biệt của nhãn hiệu

Xuất phát từ chức năng cơ bản của nhãn hiệu là phân biệt hàng hoá/dịch vụ một doanh nghiệp với hàng hoá/dịch vụ cùng loại của các doanh nghiệp khác, do đó, “khả năng phân biệt” là một trong hai điều kiện quan trọng để được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu. Đây cũng là nội dung trọng tâm trong pháp luật về nhãn hiệu của tất cả các nước, là vấn đề cốt yếu được xem xét đến trong quá trình thẩm định nhãn hiệu. Căn cứ theo quy định tại Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 về điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ:

Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

  1. Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;
  2. Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác”.

Theo tác giả Nguyễn Thị Lan Anh từng đề cập: “Có những cấp độ phân biệt khác nhau, căn cứ vào những cấp độ người ta phân thành hai loại tiêu biểu: các nhãn hiệu có tính phân biệt cố hữu (inherently distinctiveness) và các nhãn hiệu có tính phân biệt bằng nghĩa thứ cấp (secondary meaning)”.

Từ quy định của pháp luật cũng như trên cơ sở thực tiễn, có thể thấy rằng, một số nhãn hiệu chứa những dấu hiệu đặc trưng có thể phân biệt được ngay, làm nhãn hiệu đó có sự tách biệt với những nhãn hiệu của hàng hoá, dịch vụ khác. Tuy nhiên, một số nhãn hiệu khác lại khó có được tính phân biệt cố hữu mà cần phải trải qua quá trình sử dụng mới đạt được tính phân biệt.

Cho đến hiện tại, pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia đều không đưa ra khái niệm cụ thể về tính phân biệt của nhãn hiệu dù cho đây là một khái niệm quan trọng nhưng để có thể pháp điển hoá nó bằng quy phạm pháp luật lại là một vấn đề rất khó. “Mặc dù không có định nghĩa nhưng “tính phân biệt” lại được hiểu một cách khá nhất quán tại các quốc gia. Đó là khả năng chỉ ra hàng hoá hoặc dịch vụ đến từ một chủ thể nhất định và qua đó phân biệt được hàng hoá, dịch vụ của chủ thể này với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác”.

Xác định tính phân biệt của nhãn hiệu

Vì pháp luật không đưa ra một quy định cụ thể khái quát hoá như thế nào là tính phân biệt của nhãn hiệu nhưng tính phân lại biệt là một điều kiện bắt buộc và đóng một vai trò quyết định trong việc nhãn hiệu đó có được bảo hộ hay không, cho nên, vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để xác định tính phân biệt của nhãn hiệu?

Nhận thức của người tiêu dùng là yếu tố có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu khi xác định nhãn hiệu có khả năng phân biệt hay không. Trải qua một quá trình chẳng hạn như: khách hàng nghe qua/nhìn thấy một nhãn hiệu, tiếp cận được sự quảng cáo của người bán hàng, lựa chọn mua hàng hoá, … và dẫn đến việc tiêu dùng sản phẩm đó hay sử dụng 1 dịch vụ, từ đó, mỗi một khách hàng sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá hoặc so sánh.

Trên cơ sở đó, mỗi nhãn hiệu sẽ dần dần hình thành nên tính phân biệt của mình. Một nhãn hiệu sẽ được xem là có tính phân biệt khi nó được nhận ra hoặc có khả năng được nhận ra bởi những người tiêu dùng liên quan xác định được hàng hoá, dịch vụ đến từ một chủ thể riêng biệt. Tuy nhiên, pháp luật không liệt kê tất cả các dấu hiệu có tính phân biệt để xác định những dấu hiệu nào có khả năng được nhận.

Vì vậy, pháp luật quy định những trường hợp nhãn hiệu không có tính phân biệt dưới con mắt của khách hàng để từ đó xác định một nhãn hiệu có khả năng phân biệt hay không. Cũng nhờ các quy định này mà các cơ quan có thẩm quyền có thể thể dựa vào để cho phép hay từ chối đăng ký nhãn hiệu.

Quy định của pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005 về khả năng phân biệt của nhãn hiệu

Căn cứ tại Khoản 1 Điều 74, khả năng phân biệt của nhãn hiệu được quy định như sau:

Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 điều này”.

Như vậy, nhãn hiệu có khả năng phân biệt là nhãn hiệu mang hai đặc điểm “dễ nhận biết” và “dễ ghi nhớ” và đương nhiên, những dấu hiệu dài dòng, phức tạp khó nhớ, khả năng bảo hộ sẽ không cao. Do vậy, đặc điểm “dễ nhận biết” và “dễ ghi nhớ” sẽ tạo điều kiện để một nhãn hiệu gây ấn tượng được với người tiêu dùng, mới đi sâu vào tâm trí và nhận thức của họ.

Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam không vẫn chưa hướng dẫn cụ thể như thế nào là “dễ nhận biết” và “dễ ghi nhớ”. Chúng ta chỉ có thể dựa vào các quy định hiện hành để cho rằng những đặc điểm này là những dấu hiệu thông dụng mà người tiêu dùng Việt Nam với những trình độ hiểu biết thông thường cũng có thể nhận biết và ghi nhớ được để tạo nên khả năng phân biệt của nhãn hiệu.

Ở Khoản 2 Điều 74 liệt kê các trường hợp mà nhãn hiệu không có khả năng phân biệt. Vì vậy, nhãn hiệu sẽ bị coi là không có khả năng phân biệt nếu rơi vào các trường hợp sau:

– Trường hợp 1.  Hình và hình hình học đơn giản, chữ số, chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữ không thông dụng (điểm a Khoản 2 Điều 74)

– Trường hợp 2. Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hóa, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến (điểm b Khoản 2 Điều 74)

– Trường hợp 3. Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính mô tả hàng hóa, dịch vụ (điểm c Khoản 2 Điều 74)

– Trường hợp 4. Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh (điểm d Khoản 2 Điều 74)

– Trường hợp 5. Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ (điểm đ Khoản 2 Điều 74)

– Trường hợp 6. Nhãn hiệu là dấu hiệu trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của các hàng hoá, dịch vụ trùng hay tương tự (bao gồm các trường hợp được quy định từ điểm e đến điểm i luật Sở hữu trí tuệ 2005)

– Trường hợp 7. Nhãn hiệu là dấu hiệu trùng hoặc tương tự với các đối tượng Sở hữu công nghiệp khác (bao gồm các trường hợp được quy định từ điểm k đến điểm n luật Sở hữu trí tuệ 2005).

Như vậy, Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn hiểu quy định của pháp luật về khả năng phân biệt của nhãn hiệu theo quy định pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005. Trong trường hợp quý khách có bất kỳ thắc mắc cần giải đáp liên quan đến pháp luật, quý khách có thể liên hệ qua:

Hotline 1900.633.246;

Email: Luatnamson79@gmail.com để được tư vấn trực tiếp bởi Luật sư HàLuật sư Trung và các Luật sư có kinh nghiệm khác.

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook