Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 2022

hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 2022

hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Cơ sở pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế;

Luật thương mại năm 2005; (văn bản cũ trước đây: Luật thương mại năm 1997)

 Bộ luật dân sự năm 2015; (văn bản cũ trước đây: Bộ luật dân sự năm 2005)

Nghị định số 69/2018/NĐ-CP hướng dẫn luật quản lý ngoại thương.

Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là gì ?

Hoạt động thương mại quốc tế được thực hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau như thương mại hàng hóa, thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, thương mại trong lĩnh vực đầu tư…Trong đó các giao dịch trong lĩnh vực thương mại hàng hóa luôn diễn ra sôi động nhất, giữ vị trí trung tâm trong các giao dịch thương mại quốc tế.

Hợp đồng mua bán ngoại thương là hợp đồng mua bán có tính chất quốc tế với các dấu hiệu sau đây:

Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng là những pháp nhân có quốc tịch khác nhau;

Thứ hai, hàng hoá là đối tượng của hợp đồng được dịch chuyển qua các nước khác nhau; thứ ba, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một bên hoặc cả hai bên chủ thể của hợp đồng.

Trong Luật thương mại Việt Nam 1997 không có quy định về khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế hoặc hợp đồng có yếu tố nước ngoài mà Luật thương mại quy định về một loại hợp đồng có tên gọi là “hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài”.

Theo đó, “hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài”?

“Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự” (Khoản 3 Điều 4 Luật thương mại 2005; Điều 758 Bộ luật dân sự 2005).

Để đánh giá quá trình phát triển các quy định của pháp luật Việt Nam trong đó có các quy định về dấu hiệu nước ngoài trong quan hệ tư pháp quốc tế làm cơ sở để xác định quan hệ hợp đồng trong tư pháp quốc tế nói chung và trong quan hệ hợp đồng nói riêng, cần xem xét một số quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005 và Bộ luật dân sự năm 2015.

Trong Bộ luật dân sự 2005 của Việt Nam, vấn đề xác định dấu hiệu nước ngoài trong một quan hệ dân sự được ghi nhận tại Điều 758.

Bộ luật dân sự 2015 quy định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được ghi nhận tại khoản 2 Điều 663. Theo đó, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau: (1) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài; (2) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam hoặc pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập,

–       Căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hợp đồng theo pháp luật nước ngoài;

–       Đối tượng của hợp đồng là tài sản đang tồn tại ở nước ngoài.

  Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Về phương diện pháp lí, các điều ước quốc tế, các tập quán quốc tế, kể cả các đạo luật mẫu điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ít khi bàn đến vấn đề chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Điều này được lí giải rằng thẩm quyền kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ do pháp luật của quốc gia được áp dụng đối với bên kí kết quy định. Từ đó, dẫn đến một hệ quả là pháp luật của các quốc gia khác nhau sẽ có những quy định không giống nhau về thẩm quyền được kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chủ yếu là các thương nhân. Thương nhân theo nghĩa thông thường được hiểu là những người trực tiếp thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại. Trong luật thương mại, thương nhân bao gồm các cá nhân, pháp nhân có đủ các điều kiện do pháp luật quốc gia quy định để tham gia vào các hoạt động thương mại và trong một số trường hợp cả chính phủ (khi từ bỏ quyền miễn trừ quốc gia). Mỗi quốc gia có những quy định khác nhau về điều kiện trở thành thương nhân cho từng đối tượng cụ thể. Chẳng hạn, đối với cá nhân những điều kiện hưởng tư cách thương nhân trong pháp luật thương mại quốc gia thường bao gồm điều kiện nhân thân (độ tuổi, năng lực hành vi, điều kiện tư pháp) và nghề nghiệp

Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải thỏa mãn các quy định về quy chế hàng hóa được phép mua bán, trao đổi theo pháp luật của nước bên mua và bên bán.

Pháp luật của các quốc gia khác nhau có những quy định không giống nhau về những hàng hóa được phép trao đổi mua bán, từ đó sẽ dẫn đến việc có những hàng hóa theo quy định của nước này thì được phép trao đổi mua bán nhưng theo quy định của pháp luật nước khác thì lại cấm trao đổi mua bán. Như vậy chỉ những hàng hóa nào đều được pháp luật quốc gia của các bên kí kết hợp đồng quy định là được phép trao đổi mua bán thì mới có thể trở thành đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Khái niệm hàng hóa được ghi nhận trong pháp luật các quốc gia trên thế giới hiện nay, mặc dù có những khác biệt nhất định song đều có xu hướng mở rộng các đối tượng là hàng hóa được phép lưu thông thương mại.

Theo pháp luật thương mại của đa số các nước và trong nhiều điều ước quốc tế chẳng hạn như Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hàng hóa là đối tượng của mua bán thương mại được hiểu bao gồm những loại tài sản có hai thuộc tính cơ bản:

+ Có thể đưa vào lưu thông;

+ Có tính chất thương mại.

Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa (tại điều 2) chỉ loại trừ (không áp dụng) đối với một số loại hàng hóa như chứng khoán, giấy bảo đảm chứng từ và tiền lưu thông, điện năng, phương tiện vận tải đường thủy, đường không, phương tiện vận tải bằng khinh khí cầu…

Theo quy định tại khoản 2 điều 3 Luật Thương Mại Việt Nam năm 2005 thì hàng hóa bao gồm:

+ Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;

+ Những vật gắn liền với đất đai.

Như vậy, với khái niệm này thì hàng hóa là đối tượng của mua bán có thể là hàng hóa hiện đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai, hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại.

Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Xuất phát từ nguyên tắc tự do ý chí, các bên tham gia giao kết hợp đồng có quyền tự do lựa chọn hình thức thể hiện ý chí thích hợp. Điều này cũng có nghĩa là về nguyên tắc, ý chí không nhất thiết phải được bày tỏ dưới một hình thức nhất định, nó có thể biểu lộ bằng lời nói, bằng văn bản, bằng hành vi, cử chỉ cụ thể hoặc thậm chí là sự im lặng. Tuy nhiên, để thiết lập sự an toàn pháp lí trong quan hệ hợp đồng cũng như để bảo toàn chứng cứ và bảo vệ trật tự pháp luật, lợi ích xã hội, có những trường hợp hợp đồng giao kết phải tuân theo những hình thức pháp luật quy định, nếu không các bên tham gia giao kết sẽ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi.

Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng được quy định rất khác nhau trong pháp luật của các quốc gia và pháp luật quốc tế. Có pháp luật của một số nước yêu cầu bắt buộc hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được lập thành văn bản, nhưng pháp luật của một số nước khác lại không có bất kì một yêu cầu nào về hình thức hợp đồng. Mặt khác, ngay cả khái niệm “văn bản” giữa các quốc gia cũng có các quan niệm rộng hẹp khác nhau về những dạng vật chất nhất định chứa đựng thông tin nào được coi là văn bản.

Trong các văn bản pháp lí quốc tế, rất ít khi quy định về điều kiện hình thức của hợp đồng. Theo quy định của Công ước Viên 1980 thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể được thể hiện dưới bất kì hình thức nào cũng được coi là hợp pháp.

Điều 11 Công ước quy định: hợp đồng mua bán không cần phải được kí kết hoặc xác lập bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức hợp đồng. Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả những lời khai của nhân chứng.

Vấn đề này cũng được quy định tương tự trong Bộ nguyên tắc của UNIDROIT 2004 về hợp đồng thương mại quốc tế. Theo quy định tại điều 1.2 của Bộ nguyên tắc thì: không một chi tiết nào của Bộ nguyên tắc yêu cầu một hợp đồng phải được kí kết bằng văn bản hoặc phải được chứng minh có sự thỏa thuận bằng văn bản. Sự tồn tại của một hợp đồng có thể được chứng minh bằng bất kì hình thức nào kể cả bằng nhân chứng.

Tuy nhiên để giảm bớt sự “tùy nghi” của điều 11 Công ước Viên 1980 và có tính đến quy định trong pháp luật quốc gia của một số nước thành viên yêu cầu hình thức của hợp đồng phải là văn bản, tại điều 12 Công ước quy định: nước thành viên của công ước có pháp luật quốc gia yêu cầu hợp đồng phải có hình thức bằng văn bản có thể tuyên bố bảo lưu vấn đề này bất cứ lúc nào. Và điều 96 của Công ước cũng quy định nếu luật của một quốc gia thành viên nào đó quy định hợp đồng phải được kí kết dưới hình thức văn bản mới có giá trị thì quy định này phải được tôn trọng, kể cả trong trường hợp chỉ cần một trong các bên có trụ sở thương mại tại quốc gia có luật quy định hợp đồng phải được thể hiện dưới hình thức văn bản. Theo quy định tại điều 27 Luật thương mại Việt Nam 2005 thì:

“mua bán hàng hóa quốc tế phải được thể hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lí tương đương”.

Luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Việc trụ sở thương mại của các bên trong hợp đồng thương mại quốc tế nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau không chỉ có nghĩa các bên nằm trên lãnh thổ của các nước khác nhau mà còn có nghĩa là các bên liên quan đến các hệ thống pháp luật khác nhau. Xuất phát từ chủ quyền quốc gia trong công pháp quốc tế, khi một quan hệ (dân sự có yếu tố nước ngoài) liên quan đến bao nhiêu quốc gia thì về nguyên tắc có bấy nhiêu hệ thống pháp luật đều có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ đó. Trong khi đó mỗi một quốc gia trên thế giới có một hệ thống pháp luật riêng của mình và các hệ thống pháp luật đó khác nhau, thậm chí là trái ngược nhau. Từ đó dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật. Xung đột pháp luật xảy ra khi hai hay nhiều hệ thống pháp luật đồng thời đều có thể áp dụng để điều chỉnh một quan hệ pháp luật này hay quan hệ pháp luật khác. Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể được điều chỉnh bởi pháp luật của các quốc gia khác nhau. Bên cạnh đó hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể được điều chỉnh bởi điều ước quốc tế, các tập quán thương mại quốc tế, hoặc/và các đạo luật mẫu về hợp đồng thương mại quốc tế. Tuy nhiên điều cần nhấn mạnh ở đây là mỗi quan hệ thì chỉ có thể áp dụng một hệ thống pháp luật để điều chỉnh mà thôi. Vấn đề cần phải giải quyết là chọn một trong các hệ thống pháp luật để áp dụng điều chỉnh quan hệ đó.

Xuất phát từ quyền tự do ý chí trong quan hệ hợp đồng, các bên kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể chọn hệ thống pháp luật để điều chỉnh hợp đồng của mình. Tất nhiên việc chọn luật phải thỏa mãn các điều kiện chọn luật, và trong một số trường hợp quyền chọn luật bị hạn chế bởi quy định của pháp luật quốc gia khi nó liên quan đến các vấn đề chẳng hạn như bảo lưu trật tự công cộng…Trong trường hợp các bên không chọn luật áp dụng cho hợp đồng thì các quy tắc của tư pháp quốc tế được áp dụng để chọn ra hệ thống pháp luật điều chỉnh hợp đồng khi cần thiết.

hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te

Như vậy Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn hiểu quy định về vấn đề liên quan đến Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Trong trường hợp quý khách có bất kỳ các vấn đề nào gặp khó khăn đừng ngần ngại liên hệ Luật Nam Sơn để được hỗ trợ trực tiếp bởi các Luật sư HàLuật sư Trung và các Luật sư có kinh nghiệm khác.

Nội dung trên chỉ mang tính chất tham khảo, quý khách hàng có nhu cầu tư vấn chi tiết vui lòng liên hệ:

Điện thoại: 1900.633.246

Gmail: Luatnamson79@gmail.com

 

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook