Giao dịch dân sự vô hiệu là gì? Được quy định như thế nào?

giao-dich-dan-su-vo-hieu-la-gi

Giao dịch dân sự vô hiệu là gì? Được quy định như thế nào?

giao-dich-dan-su-vo-hieu-la-gi

Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu là gì?

Một giao dịch dân sự hợp pháp khi đáp ứng được các điều kiện quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 trong đó có ba điều kiện bắt buộc về chủ thể, nội dung và mục đích. Đối với điều kiện về hình thức của giao dịch, điều kiện này chỉ đặt ra khi pháp luật có quy định. Khi giao dịch dân sự không đáp ứng điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì có thể bị vô hiệu. Giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch không có hiệu lực pháp luật và không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự cho các chủ thể trong giao dịch.

Theo Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2015:

“Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác .

Theo quy định luật, giao dịch dân sự chỉ cần không thỏa mãn một trong các điều kiện có hiệu lực do luật định đã có thể bị vô hiệu. Do đó, một giao dịch dân sự có thể vô hiệu do vi phạm một điều kiện hoặc bị vô hiệu do vi phạm đồng thời nhiều điều kiện có hiệu lực do luật định.

Các loại giao dịch dân sự vô hiệu

Căn cứ vào trình tự, thủ tục xác nhận giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự vô hiệu được phân thành hai loại: giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối và giao dịch dân sự vô hiệu tương đối;

Căn cứ vào mức độ vô hiệu thì giao dịch dân sự vô hiệu được phân thành hai loại: giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ và giao dịch dân sự vô hiệu một phần;

Căn cứ vào nguyên nhân vô hiệu thì giao dịch dân sự vô hiệu được phân thành bốn nhóm theo từng trường hợp vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự gồm:

(i) Giao dịch dân sự vô hiệu do chủ thể không có năng lực chủ thể phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

(ii) Giao dịch dân sự vô hiệu do chủ thể tham gia giao dịch không có sự tự nguyện;

(iii) Giao dịch dân sự vô hiệu do mục đích và nội dung của giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội;

(iv) Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức của giao dịch.

Theo cách phân loại truyền thống thì các trường hợp giao dịch bị vô hiệu có thể được phân thành hai nhóm chính: Vô hiệu tuyệt đối (hay còn gọi là vô hiệu đương nhiên) và vô hiệu tương đối (hay còn gọi là vô hiệu bị tuyên).

Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

Về nguyên tắc chung, giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh quyển, nghĩa vụ của các bên từ thời điểm xác lập. Các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu (hoàn nguyên) như khi chưa xác lập giao dịch, cho nên nếu giao dịch chưa được thực hiện thì các bên không được thực hiện giao dịch đó. Nếu giao dịch đã được thực hiện toàn bộ hay một phần thì các bên không được tiếp tục thực hiện giao dịch và phải hoàn trả cho nhau những lợi ích vật chất đã nhận cùa nhau. Nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại (khoản 4 Điều 131 BLDS năm 2015).

Thời hạn yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là hai năm, kể từ ngày giao dịch được xác lập đối với các giao dịch dân sự được xác lập do người không đủ năng lực hành vi, do nhầm lẫn, đe doạ, lừa dối, do không tuân thủ các quy định bắt buộc về hình thức. Những giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, thời hạn tuyên bố giao dịch vô hiệu không bị hạn chế.

Như vậy Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn hiểu quy định của pháp luật về Giao dịch dân sự vô hiệu là gì? Được quy định như thế nào? Trong trường hợp quý khách có bất kỳ các vấn đề nào gặp khó khăn đừng ngần ngại liên hệ Luật Nam Sơn để được hỗ trợ trực tiếp bởi  Luật sư Hà, Luật sư Trung và các luật sư chuyên môn khác.

Điện thoại: 1900.633.246

Gmail: Luatnamson79@gmail.com

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook