Đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự ở Toà án sơ thẩm: 01 số vấn đề cần lưu ý

 

Để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự, Toà án cần căn cứ vào các cơ sở pháp lý về căn cứ đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự được pháp luật quy định. Trong pháp luật Tố tụng dân sự hiện hành, đối với vụ án dân sự, căn cứ đình chỉ được quy định tại Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; mặt khác căn cứ đình chỉ giải quyết việc dân sự chưa được pháp luật quy định cụ thể ở một điều luật nhất định nào.

Đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự

Căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở Toà án cấp sơ thẩm

– Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế (điểm a khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).

– Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó (điểm b khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).

– Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan (điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015) .

– Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó (điểm d khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).

– Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này. Trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định tại Bộ luật này thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).

– Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết (điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).

– Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý (điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015). Theo quy định tại khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì Tòa án nhận đơn cần trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau:

  • Trường hợp người khởi kiện không có quyền khởi kiện.
  • Người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự.
  • Chưa có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
  • Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  • Hết thời hạn quy định mà người khởi kiện không nộp Biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án.
  • Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
  • Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

– Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Các trường hợp này được dự liệu trong Điều ước quốc tế hoặc văn bản quy phạm pháp luật khác (không quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự) và cũng được xác định là căn cứ để Toà án ra quyết định đình chỉ vụ án.

Căn cứ đình chỉ giải quyết việc dân sự ở Toà án cấp sơ thẩm

Như đã đề cập ở trên, hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam chưa có một quy định cụ thể nào về căn cứ đình chỉ giải quyết việc dân sự như vụ án dân sự. Trên tinh thần Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn có thể áp dụng các căn cứ được quy định tại Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự để đình chỉ giải quyết việc dân sự. Tuy nhiên, với sự đa dạng trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, trong nhiều tình huống khác nhau, pháp luật cũng cần đặt ra những quy định riêng điều chỉnh về căn cứ đình chỉ việc dân sự để phù hợp với thực tiễn.

Ngoài những căn cứ được quy định tại Điều 217, có thể thấy, căn cứ đình chỉ giải quyết việc dân sự còn nằm rải rác trong một số Điều khoản ở Bộ luật Tố tụng dân sự:

            Một là, trường hợp người yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự (khoản 2 Điều 367).

            Hai là, trường hợp thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn nếu sau khi hòa giải, vợ, chồng đoàn tụ thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu của họ (khoản 3 Điều 397).

            Ba là, trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành và các đương sự không thỏa thuận được về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Tòa án đình chỉ giải quyết việc dân sự về công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và thụ lý vụ án để giải quyết (khoản 5 Điều 397).

Như vậy, Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn hiểu quy định của pháp luật về Đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự ở Toà án sơ thẩm. Trong trường hợp quý khách có bất kỳ thắc mắc cần giải đáp liên quan đến pháp luật, quý khách có thể liên hệ qua:

Hotline 1900.633.246;

Email: Luatnamson79@gmail.com để được tư vấn trực tiếp bởi Luật sư HàLuật sư Trung và các Luật sư có kinh nghiệm khác.

 

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook