Điều kiện, trách nhiệm đối với người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người khuyết tật, người già năm 2022

Quy định về nội dung của bản cáo trạng

Điều kiện, trách nhiệm đối với người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người khuyết tật, người già. Trợ giúp xã hội được hiểu là sự trợ giúp  của nhà nước hoặc các tổ chức xã hội dành cho những người có hoàn cảnh khó khăn mà  họ không thể tự mình vượt qua. Chăm sóc, quan tâm tại cộng đồng là một trong những hình thức trợ giúp xã hội đối với  đối tượng bảo trợ xã hội. Điều kiện và trách nhiệm của người  chăm sóc người khuyết tật, người cao tuổi được quy định như thế nào? Hãy cùng  tìm hiểu trong bài viết dưới đây.

Điều kiện, trách nhiệm đối với người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người khuyết tật, người già

Khái quát về người khuyết tật đặc biệt nặng, người cao tuổi đủ điều kiện sống tại cơ sở trợ giúp xã hội được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng 

Căn cứ tại Điểm c, Khoản 1, Điều 18, Nghị định 20/2021/NĐ-CP, người khuyết tật đặc biệt năng là một trong các đối tượng thuộc diện được hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng hàng tháng.  Khoản 1, Điều 2, Luật người khuyết tật năm 2010 quy định người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn. Trong đó, người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày.

Bên cạnh đó, căn cứ tại Điểm b, Khoản 1, Điều 18, Nghị định 20/2021/NĐ-CP, Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có trách nhiệm và quyền chăm sóc, phụng dưỡng, không có điều kiện sống tại cộng đồng, có đủ điều kiện nhận phụng dưỡng, chăm sóc hàng tháng do hộ gia đình, cá nhân thực hiện. tham gia trợ giúp xã hội có những người hoàn cảnh khó khăn, có phương tiện nhưng được cộng đồng chăm sóc là người cao tuổi.

Điều kiện và trách nhiệm đối với người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người khuyết tật đặc biệt nặng và người cao tuổi

Khoản 1, Điều 23, Nghị định 20/2021/NĐ-CP quy định về điều kiện, trách nhiệm đối với người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người khuyết tật đặc biệt nặng và người cao tuổi đủ điều kiện sống tại cơ sở trợ giúp xã hội như sau:

– Có sức khoẻ, kinh nghiệm và kỹ năng chăm sóc người khuyết tật, người cao tuổi;

Người khuyết tật, người cao tuổi là những đối tượng đặc biệt với những quy trình chăm sóc cần phải cẩn thận, kỹ lưỡng và đúng kỹ thuật. Do vậy, việc chăm sóc người khuyết tật, người cao tuổi đòi hỏi người nhận chăm sóc phải có sức khoẻ, kinh nghiệm và kỹ năng chăm sóc.

– Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước;

Điều 19, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.

– Có nơi ở ổn định và nơi ở cho người khuyết tật, người cao tuổi;

– Có điều kiện kinh tế;

– Đang sống cùng chồng hoặc vợ thì chồng hoặc vợ phải bảo đảm điều kiện có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và có sức khoẻ, kinh nghiệm và kỹ năng chăm sóc người khuyết tật, người cao tuổi;

Điều kiện, trách nhiệm đối với người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người khuyết tật, người già

Trường hợp không được tiếp tục nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi, người khuyết tật

Căn cứ tại Khoản 2, Điều 23 Nghị định 20/2021/NĐ-CP, người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi, người khuyết tật đặc biệt nặng không được tiếp tục nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi, người khuyết tật khi có các hành vi sau:

– Lợi dụng việc nhận việc chăm sóc, nuôi dưỡng để trục lợi;

Các hành vi lợi dụng việc nhận chăm sóc, nuôi dưỡng để trục lợi có thể hiểu là việc người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng lợi dụng người cao tuổi, người khuyết tật để kiếm tiền.

Ví dụ như bắt người cao tuổi đi bán hàng rong trên dọc đường, lợi dụng các khiếm khuyết về thể chất để bắt người khuyết tậ đi ăn xin

– Có hành vi đối xử tệ bạc đối với người cao tuổi, người khuyết tật;

Các hành vi đối xử tệ bạc như đánh đập, mắng nhiếc, chửi rửa, nhục mạ, bỏ đói…

– Có tình trạng kinh tế hoặc lý do khác dẫn đến không còn bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi, người khuyết tật;

– Vi phạm nghiêm trọng quyền của người được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng.

Ví dụ: Một trong các quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 tại Khoản 1, Điều 14 như sau:

Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

Như vậy Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn Điều kiện, trách nhiệm đối với người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng người khuyết tật, người già

Trong trường hợp quý khách có bất kỳ các vấn đề nào gặp khó khăn đừng ngần ngại liên hệ Luật Nam Sơn để được hỗ trợ trực tiếp bởi các Luật sư HàLuật sư Trung và các Luật sư có kinh nghiệm khác.

Nội dung trên chỉ mang tính chất tham khảo, quý khách hàng có nhu cầu tư vấn chi tiết vui lòng liên hệ:

Điện thoại: 1900.633.246

Gmail: Luatnamson79@gmail.com

 

 

 

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook