Bảo đảm của nhà nước đối với doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp năm 2022

Bảo đảm của Nhà nước đối với công ty và chủ sở hữu doanh nghiệp được quy định tại Điều 5 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Đây có thể được coi là một nguyên tắc trong quá trình ban hành và thực thi pháp luật của Nhà nước. Vậy nhà nước bảo đảm cho doanh nghiệp và chủ sở hữu trong trường hợp nào? Sau đây, các bạn cùng theo dõi bài viết của Luật Nam Sơn để hiểu rõ hơn nhé!

Bảo đảm của nhà nước đối với doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp năm 2022

Doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp

Theo quy định tại Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.

Đồng thời, theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015 thì Chủ sở hữu là chủ thể có các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với một tài sản, một khối tài sản được pháp luật thừa nhận. Như vậy, chủ sở hữu doanh nghiệp cũng được hiểu là chủ thể có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với doanh nghiệp đó, tài sản trong doanh nghiệp đó.

Bảo đảm của nhà nước đối với doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp

Điều 5 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định như sau:

“Điều 5. Bảo đảm của Nhà nước đối với doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp

  1. Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp được quy định tại Luật này; bảo đảm bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; công nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh.
  2. Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp.
  3. Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính. Trường hợp thật cần thiết, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng tài sản của doanh nghiệp thì được thanh toán, bồi thường theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản. Việc thanh toán, bồi thường phải bảo đảm lợi ích của doanh nghiệp và không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp.”

Đầu tiên, nhà nước công nhận sự tồn tại và phát triển lâu dài của các loại hình doanh nghiệp được quy định theo Luật Doanh nghiệp; đảm bảo sự bình đẳng về mặt pháp lý trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; công nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh.

Nhà nước công nhận có 05 loại hình doanh nghiệp là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Các doanh nghiệp này cần đăng ký tại cơ quan đăng ký kinh doanh khi thành lập. Đây là quá trình nhà nước ghi nhận sự ra đời của doanh nghiệp về mặt pháp lý. Sau khi hoàn thành thủ tục này, doanh nghiệp được Nhà nước bảo vệ, công nhận sự tồn tại và phát triển lâu dài.

Trong quá trình hoạt động của mình, doanh nghiệp sẽ tham gia vào các mối quan hệ trao đổi, mua bán trên thị trường. Các quan hệ này không chỉ xảy ra giữa các doanh nghiệp cùng quyền sở hữu trong cùng một ngành mà cả giữa các công ty có quyền sở hữu khác nhau trong các lĩnh vực khác nhau. Các quan hệ này mang tính chất vừa hợp tác với nhau, vừa cạnh tranh lẫn nhau.

Sự hợp tác và cạnh tranh đó chỉ có thể phát triển một cách lành mạnh với điều kiện các doanh nghiệp đều bình đẳng với nhau về mặt pháp lý. Bình đẳng trước pháp luật có nghĩa là các doanh nghiệp trong tất cả các thành phần kinh tế, trong cùng điều kiện, hoàn cảnh như nhau, có quyền và nghĩa vụ như nhau.

Quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp là một quyền chủ thể của doanh nghiệp, quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp đòi hỏi bình đẳng trong suốt thời gian tồn tại của nó, từ khi thành lập, đi vào hoạt động kinh doanh và khi giải thể, phá sản doanh nghiệp.

Mục đích của doanh nghiệp là kinh doanh. Kinh doanh là hoạt động được thực hiện nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận. Sinh lợi được hiểu là hoạt động kinh doanh nhằm tạo ra lợi nhuận và những lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội khác theo hướng tích cực.

Dựa trên những điều kiện vật chất – kỹ thuật sẵn có, các doanh nghiệp luôn tìm mọi biện pháp thích hợp để đạt được mức lợi nhuận tối đa. Tuy nhiên, mọi hoạt động thương mại của doanh nghiệp đều phải hợp pháp. Nếu kinh doanh trái pháp luật, thu lợi bất chính, chủ doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nặng nề.

Thứ hai, nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp.

Thứ ba, tài sản và vốn hợp pháp của các công ty và chủ sở hữu doanh nghiệp sẽ không bị quốc hữu hóa hoặc bị tịch thu bằng biện pháp hành chính. Trong trường hợp thật cần thiết mà Nhà nước trưng dụng, trưng thu tài sản của doanh nghiệp thì được thanh toán, bồi thường theo quy định của Luật trưng thu, trưng thu tài sản. Các khoản thanh toán và bồi thường phải bảo vệ lợi ích của công ty và không được phân biệt đối xử giữa các loại hình công ty.

Quốc hữu hóa là quá trình chuyển từ hình thức sở hữu tư nhân về tài sản, doanh nghiệp sang hình thức sở hữu nhà nước hay sở hữu công cộng. Theo quy định của pháp luật doanh nghiệp, tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính.

Nhà nước chỉ được trưng mua, trưng dụng tài sản của doanh nghiệp trong các trường hợp được quy định tại Luật trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008:

“Điều 5. Điều kiện trưng mua, trưng dụng tài sản

Việc trưng mua, trưng dụng tài sản chỉ được thực hiện khi Nhà nước có nhu cầu sử dụng tài sản mà các biện pháp huy động khác không thực hiện được, thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  1. Khi đất nước trong tình trạng chiến tranh hoặc trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng theo quy định của pháp luật về quốc phòng và pháp luật về tình trạng khẩn cấp;
  2. Khi an ninh quốc gia có nguy cơ bị đe dọa theo quy định của pháp luật về an ninh quốc gia;
  3. Khi mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia có khả năng bị xâm phạm hoặc cần được tăng cường bảo vệ theo quy định của pháp luật về quốc phòng và pháp luật về an ninh quốc gia;
  4. Khi phải đối phó với nguy cơ hoặc để khắc phục thảm họa do thiên tai, dịch bệnh gây ra trên diện rộng hoặc nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước.”

Như vậy Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn hiểu quy định về Bảo đảm của nhà nước đối với doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp năm 2022. Hy vọng bài viết đã giúp bạn hiểu rõ hơn về Bảo đảm của nhà nước đối với doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp năm 2022

Trong trường hợp quý khách có bất kỳ các vấn đề nào gặp khó khăn đừng ngần ngại liên hệ Luật Nam Sơn để được hỗ trợ trực tiếp bởi các Luật sư HàLuật sư Trung và các Luật sư có kinh nghiệm khác.

Nội dung trên chỉ mang tính chất tham khảo, quý khách hàng có nhu cầu tư vấn chi tiết vui lòng liên hệ:

Điện thoại: 1900.633.246

Gmail: Luatnamson79@gmail.com

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook