Đầu tư quốc tế và 01 số vấn đề cần biết.

đầu tư quốc tế

Khái quát chung về đầu tư quốc tế

Đầu tư quốc tế xuất hiện khá sớm từ thời tiền tư bản khi mà các công ti của Anh, Pháp, Hà Lan… đầu tư vào châu Á để khai thác tài nguyên thiên nhiên cho các công ti của chính quốc. Đến thế kỉ XIX quá trình tích tụ tập trung tư bản phát triển nhanh chóng, đó là tiền đề cho xuất khẩu tư bản.

Đầu tư quốc tế được xem là hiện tượng kinh tế mang tính tất yếu, là kết quả của quá trình tích tụ tập trung tư bản mang lại. Đầu tư quốc tế đề cập được tiếp cận là một bộ phận của quan hệ kinh tế quốc tế nói chung, và là một bộ phận của thương mại quốc tế nói riêng:

“Thương mại quốc tế là hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại, chuyển giao công nghệ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác diễn ra giữa các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ”.

Bài viết này sẽ tập trung làm rõ khái niệm, nguyên nhân của đầu tư quốc tế, chính sách đầu tư quốc tế, xu hướng trong đầu tư quốc tế và các loại hình đầu tư quốc tế.

Khái niệm đầu tư quốc tế

đầu tư quốc tế

Đầu tư quốc tế là quá trình kinh tế trong đó nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức, cá nhân) đưa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào vào nước sở tại để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ nhằm thu lợi nhuận hoặc để  đạt được một mục đích kinh tế – xã hội nhất định.

Thực chất của đầu tư nước ngoài là xuất khẩu tư bản, hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hóa. Xuất khẩu tư bản là hành trình thực hiện giá trị thặng dư ở nước ngoài, còn xuất khẩu hàng hoá là quá trình thực hiện giá trị thặng dư ở trong nước.

Tác động tích cực của dòng vốn FDI đối với quốc gia nhận đầu tư trong đầu tư quốc tế

–    Dòng vốn: Những dòng vốn này sẽ chảy vào quốc gia nhận đầu tư. Khi có dòng vốn chảy vào, mức độ đầu tư của nước nhận đầu tư tăng lên. Chính điều này sẽ làm gia tăng mức độ hình thành vốn của quốc gia vì sẽ có nhiều nhu cầu về hàng hóa đầu tư.

Vì các tập đoàn đa quốc gia (Multinational Corporation – MNC) hoạt động hiệu quả thì sẽ sử dụng nguồn vốn hiệu quả, do đó làm gia tăng hiệu quả sản xuất vốn của nước sở tại. Sự gia tăng nhanh chóng của các cơ sở sản xuất sẽ giúp phát triển đồng đều cơ sở hạ tầng cũng như phát triển xã hội.

–   Chuyển giao công nghệ: FDI mang theo kĩ năng quản lý và công nghệ. Bây giờ, khi các MNC sử dụng công nghệ của họ tại nước sở tại thì nước nhận đầu tư sẽ được hưởng lợi/tiếp cận công nghệ đó. Sau khi tiếp cận được công nghệ của MNC, nước nhận đầu tư có thể sử dụng vì chính lợi ích của mình.

–    Tạo việc làm: FDI mang đến nhiều công việc hơn cho nước nhận đầu tư. Các MNC tạo ra việc làm trực tiếp hoặc gián tiếp. MNC sử dụng trực tiếp nhân công tại nước sở tại. Người ta cũng nhận thấy rằng các MNC trả lương cho nhân viên của họ cao hơn vì vậy, giúp nâng cao mức sống của người lao động, do đó tạo thêm việc làm gián tiếp cho công nhân tại nước sở tại.

–    Mang đến sự lựa chọn tốt hom cho người tiêu dùng: Các sản phẩm của MNC sẽ đưa đến nhiều sự lựa chọn hơn cho khách hàng. Do đó, các MNC làm gia tăng mức độ cạnh tranh tại thị trường của nước chủ nhà mang lại lợi ích cho người tiêu dùng. Khi mức độ cạnh tranh tăng cao sẽ giúp phát triển khu vực sản xuất trong nước và phân bổ hiệu quả nguồn vốn, tạo động lực phát triển kinh tế.

–   Tác động tích cực đến cản cân thanh toán:

Thứ nhất, khi FDI được đổ vào sẽ tạo sự thay thế cho hoạt động nhập khẩu vì người tiêu dùng có xu hướng sử dụng hàng hóa thương hiệu nước ngoài mà không cần mua tại nước ngoài.

Thứ hai, các MNC cũng sẽ được hưởng lợi trong việc xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ từ nước sở tại.

Tác động tiêu cực của dòng vốn FDI đối với quốc gia nhận đầu tư trong đầu tư quốc tế

–   Tạo sức ép cho doanh nghiệp và sản phẩm trong nước: Sự gia tăng của các MNC tại các nước nhận đầu tư sẽ tạo nên sự hỗn loạn đối với các doanh nghiệp cũng như sản phẩm trong nước. Các MNC hoạt động hiệu quả tốt hon thì sẽ chiếm lĩnh nhanh chóng thị trường tiêu dùng. Kết quả là nhu cầu đối với sản phẩm trong nước giảm do thị phần của các doanh nghiệp trong nước cũng giảm. Chính điều này tạo nên sức ép lớn với các doanh nghiệp quốc nội.

–    Không có mạng lưới an toàn cho người lao động: Các MNC sử dụng các công nghệ dựa nhiều vào vốn và điều này dẫn đến sự chuyển dịch lao động lớn trong các ngành truyền thống dẫn đến thất nghiệp và thiếu việc làm. Chính điều này dẫn đến bất ổn trong lao động và gia tăng những vấn đề xã hội ở nước sở tại.

–   Bất bình đẳng trong thu nhập: Các MNC trả lương cho nhân viên thường cao hơn các doanh nghiệp/công ti trong nước. Chính điều này làm gia tăng bất bình đẳng trong thu nhập. Khi bất bình đẳng tăng cao sẽ dẫn đến bất ổn xã hội và gây ra nhiều tệ nạn xã hội. Khi bất bình đẳng xuất hiện tại bất kì quốc gia nào thì nhóm người thu nhập thấp sẽ bị ảnh hưởng nặng nề, nhất là vào thời kì lạm phát.

–    Tạo nên sức mạnh độc quyền: Các vụ mua bán và sáp nhập lớn tại nước nhận đầu tư bởi các MNC dẫn đến việc gia tăng sức mạnh độc quyền. Tạo ra sức mạnh độc quyền trong nền kinh tế sẽ làm sai lệch sự phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả và giảm thặng dư tiêu dùng. Chính điều này có thể làm suy yếu các mục tiêu và phúc lợi quốc gia.

–    Giả thuyết nơi ẩn giấu ô nhiễm (Pollution Haven Hypothesis – Giả thuyết nơi ẩn giấu ô nhiễm) cho rằng: bên cạnh mục đích khai thác tài nguyên, dòng vốn FDI này còn nhằm thay đổi nơi xả thải và nhất là còn nhằm tìm nơi để chôn cất chất thải không xử lý được mà ở các quốc gia phát triển, doanh nghiệp không được phép thực hiện hay không thê thực hiện do những quy định rât nghiêm ngặt vê môi trường, chi phí xử lý và thuế suất xả thải rất cao).

Giả thuyết là khái niệm di dời của các MNC tại các quốc gia mà các quy định và điều luật liên quan đến môi trường lỏng lẻo hon. Các quốc gia mà quy định về bảo vệ môi trường không chặt thì sẽ hở thành “thiên đường ô nhiễm”. Chính các quốc gia này sẽ thu hút các ngành công nghiệp gây ô nhiễm từ các quốc gia khác. Hậu quả là các công ti này sẽ di dời đến các quốc gia ít kiểm soát môi trường và làm ô nhiễm trầm trọng quốc gia đó.

–    Làm suy yểu chủ quyền quốc gia: Một số MNC quá lớn khiến họ có thể thống trị cả chủ quyền quốc gia. Các công ti này ở vị thế có thể gây ảnh hưởng đến các đảng phái chính trị tại chính các quốc gia sở tại (quốc gia nhận vốn đầu tư). Chính hành động này của MNC sẽ làm gia tăng tham nhũng tại một số chính trị gia.

–    Ảnh hưởng bất lợi đen cán cân thanh toán: Các MNC cũng gây nên những ảnh hưởng bất lợi trong cán cân thanh toán. Các MNC chuyển tiền bản quyền cho công ti mẹ tại nước của họ. Giá chuyển nhượng thường ít hợp lý do các MNC sẽ phải trả ít thuế hơn và gây nên hiệu ứng tiêu cực đến cán cân thanh toán. Ngoài ra, các MNC còn truy xuất lợi nhuận về công ti mẹ dưới dạng lãi suất và cổ tức. Tất cả các yếu tố này tạo nên tác động bất lợi đối với cán cân thanh toán của nước sở tại.

–    Hội nhập kinh tế quốc tế: Bằng việc làm trầm trọng hơn cán cân thanh toán thông qua việc hạn chế xuất khẩu, xúc tiến nhập khẩu và loại trừ các công ti bản địa xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu.

Nguyên nhân của đầu tư quốc tế

Trình độ phát triển không đồng đều

Của lực lượng sản xuất và sự phân bố không đồng đều giữa các yếu tố sản xuất. Các yếu tố cơ bản của sản xuất như vốn, công nghệ, lao động, đất đai không được phân bổ đồng đều giữa các nước, các nước phát triển có lợi thế về vốn và công nghệ trong khi các nước đang phát triển được hưởng lợi.

Về lao động, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác kém hiệu quả, bởi vậy, đầu tư quốc tế là phương thức hữu hiệu để kết hợp tối ưu nguồn lực của đất nước và giảm thiểu lượng tiền chi sản xuất.

Quá trình thế giới hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ

Điều này đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc di chuyển các nguồn lực, bao gồm cả đầu tư giữa các quốc gia.

Quá trình quốc tế hóa đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động đầu tư quốc tế như về mặt công nghệ mạng viễn thông, thông tin và truyền thông rất phát triển, làm cho toàn cầu hóa bị thu hẹp lại.

Các nhà đầu tư tiếp xúc với mọi thông tin vốn nhiều hơn, nhanh hơn. Hơn trước, để họ có thể đưa ra quyết định đầu tư hiệu quả hơn.

Sự phát triển mãnh liệt của cách mạng khoa học kĩ thuật

Tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ được thể hiện trên hai phương diện:

Yêu cầu đầu tư cho khoa học và công nghệ ngày càng cao, như trong lĩnh vực viễn thông, hàng không luôn có sự hợp tác quốc tế.

Vòng đời công nghệ ngày càng ngắn.

Đầu tư quốc tế làm hàng rào chắn

Đầu tư quốc tế nhằm tránh các rào cản thương mại bảo hộ để gia nhập và chiếm lĩnh thị trường, mở rộng sức mạnh của các công ty xuyên quốc gia (TNCs).

Xuất khẩu hàng hóa ra thị trường nước ngoài là một bài toán khó, doanh nghiệp phải đối mặt với hàng loạt rào cản, hàng rào bảo hộ (hàng rào thuế quan, hàng rào phi thuế quan).

Vì vậy, để tránh những khó khăn này, doanh nghiệp có thể xây dựng các trung tâm, cơ sở, cơ sở kinh doanh ngay trong lòng thị trường nội địa.

Nâng cao uy tín quốc tế

Đầu tư quốc tế là một hình thức cần thiết để nâng cao uy tín quốc tế và thực hiện các mục đích chính trị – xã hội. Mỗi quốc gia tùy theo mức độ ưu tiên của mình có thể có kế hoạch đầu tư vào các lĩnh vực, quốc gia.

Đầu tư ra nước ngoài nhằm hạn chế rủi ro

Thực hiện nguyên tắc cơ bản trong kinh doanh là không để tất cả trứng vào một rổ, lĩnh vực đầu tư sẽ giảm, khi có sự thay đổi diễn ra ở một địa bàn thì chỉ có chi nhánh ở khu vực đó bị ảnh hưởng, các khu vực khác không bị ảnh hưởng.

Tận dụng chính sách thuế.

Các nhà đầu tư sẽ chọn địa điểm có mức thuế ưu đãi cho mình, đồng thời, họ sẽ tiến hành giảm thiểu tất cả các loại thuế đối với tất cả các tập đoàn.

Như vậy, Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn hiểu một số vấn đề pháp lý về đầu tư quốc tế. Trong trường hợp quý khách có bất kỳ thắc mắc cần giải đáp liên quan đến pháp luật, quý khách có thể liên hệ qua:

Hotline 1900.633.246;

Email: Luatnamson79@gmail.com để được tư vấn trực tiếp bởi Luật sư HàLuật sư Trung và các Luật sư có kinh nghiệm khác.

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook