Chủ thể của luật hình sự theo quy định pháp luật hiện hành

chu-the-cua-toi-pham

Chủ thể của luật hình sự theo quy định pháp luật hiện hành

Chủ thể của tội phạm được hiểu là những cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm trong một vụ án cần dựa vào nhiều yếu tố khác nhau. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì chủ thể của tội phạm là những người có năng lực trách nhiệm hình sự, bên cạnh đó còn phải đạt được độ tuổi chịu trách nhiệm theo luật quy định thì mới có xác định tội danh và áp dụng hình phạt.

chu-the-cua-toi-pham

Khái niệm

chủ thể của luật hình sự còn có tên gọi khác là chủ thể của tội phạm. Đây là một trong những yếu tố quan trọng để xác định hành vi có cấu thành tội phạm hay không.

Điều 8. Khái niệm tội phạm
1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.
Như vậy, chủ thể của tội phạm luật hình sự là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại cố ý hoặc vô ý thực hiện hành vi được mô tả trong Bộ luật hình sự và phải có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hiện nay, Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật hình sự mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Năng lực chủ thể luật hình sự

Năng lực trách nhiệm hình sự

     Năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng của một người nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi do mình thực hiện và điều khiển được hành vi đó tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.

Không có năng lực trách nhiệm hình sự

Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự. Nhưng đã lâm vào tình trạng mất năng lực trách nhiệm hình sự khi thực hiện tội phạm thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
     Bộ luật hình sự cũng quy định người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Bởi trong trường hợp này họ tự đặt mình vào tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

Độ tuổi của chủ thể luật hình sự

    Theo điều 12 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã quy định về tuối chịu trách nhiệm hình sự như sau:
  • Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
  • Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này
     Theo quy đinh của BLHS hiện hành, Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù; Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Như vậy Luật Nam Sơn đã giải đáp cho các bạn hiểu quy định của pháp luật về Chủ thể của luật hình sự theo quy định pháp luật hiện hành. Trong trường hợp quý khách có bất kỳ các vấn đề nào gặp khó khăn đừng ngần ngại liên hệ Luật Nam Sơn để được hỗ trợ trực tiếp bởi  Luật sư Hà, Luật sư Trung và các luật sư chuyên môn khác.

Điện thoại: 1900.633.246

Gmail: Luatnamson79@gmail.com

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook