Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp năm 2022

Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp

Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp năm 2022

Trong quá trình giải quyết vụ án, biện pháp khẩn cấp tạm thời có vai trò vô cùng quan trọng. Trong đó bao gồm cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp. Vậy pháp luật có những quy định gì về vấn đề này? Ai có thẩm quyền quyết định cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp?

Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp

Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản được pháp luật bảo vệ như thế nào?

Căn cứ Điều 164 Bộ luật Dân sự 2015, các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bao gồm:

“Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật.

Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.”

Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp?

Căn cứ khoản 7 Điều 114, các biện pháp khẩn cấp tạm thời bao gồm: “Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp.”

Đồng thời, cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp cho người khác. (Điều 121 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015)

Theo đó, Điều 121 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định cụ thể về trường hợp áp dụng biện pháp cấm chuyển dịch về quyền tài sản đối với tài sản đang tranh chấp như sau:

– Thứ nhất, nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu tài sản đang tranh chấp có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp cho người khác.

Nếu trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án, nghiên cứu hồ sơ vụ án đến khi giải quyết tranh chấp của các bên đương sự, nếu có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu tài sản có tranh chấp, tức là chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản tranh chấp khi đang có hai hay nhiều người cùng xác nhận quyền của mình đối với tài sản đó và phủ định quyền của người kia đối với tài sản mà tài sản hiện không rõ thuộc về người nào mà họ có những hành vi, hành động cụ thể đó là chuyển giao tài sản đang tranh chấp đó cho người khác hay có thể gọi là bên thứ ba thì đương sự có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để ngăn chặn hành vi trái pháp luật của họ.

– Thứ hai, nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp cho người khác.

Tương tự như người đang chiếm hữu tài sản, người giữ tài sản đang tranh chấp hay có thể hiểu đó là chủ thể lưu giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản, khi tài sản đó đang trong quá trình tranh chấp mà đang có hành vi chuyển dịch tài sản đó cho người khác thì cơ quan tiến hành có quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với họ để ngăn chặn hành vi mà họ đang thực hiện.

Thẩm quyền quyết định cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp?

Căn cứ Điều 112 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Thẩm quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời:

Trước khi mở phiên tòa, việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời do một Thẩm phán xem xét, quyết định.

Tại phiên tòa, việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời do Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp thực hiện với trình tự như thế nào?

Khoản 1, 2 Điều 69 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 28 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự) quy định về tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản:

Trường hợp cần ngăn chặn hoặc phát hiện đương sự có hành vi chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng tài sản, trốn tránh việc thi hành án, Chấp hành viên ra quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi hành án, tài sản chung của người phải thi hành án với người khác.

Quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản phải được gửi ngay cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đó.

Chấp hành viên yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp các giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh quyền sở hữu, sử dụng; thông báo cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về quyền khởi kiện yêu cầu xác định quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản.

Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên phải xác minh, làm rõ hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xác định quyền sở hữu, sử dụng tài sản để thi hành án, giải quyết tranh chấp tài sản; yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản theo quy định của pháp luật.

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có căn cứ xác định tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định tại Chương IV của Luật này; trường hợp có căn cứ xác định tài sản không thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án thì Chấp hành viên phải ra quyết định chấm dứt việc tạm dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản.”

Trên đây là những quy định của pháp luật về cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp Luật Nam Sơn xin gửi đến quý bạn đọc.

Bài viết trên chỉ mang tính chất tham khảo. Trường hợp có các thắc mắc cần giải đáp chi tiết liên quan đến pháp luật quý bạn đọc có thể liên hệ qua Hotline: 1900.633.246, email: Luatnamson79@gmail.com để được tư vấn trực tiếp bởi Luật sư HàLuật sư Trung và các Luật sư có kinh nghiệm khác.

1900.633.246 tv.luatnamson@gmail.com Follow on facebook